Mua hàng:0983715689 Diễn đàn   Đặt câu hỏi
Hỗ trợ sử dụng Tư vấn mua hàng
Call 04.5148550
Call 04.5148550
Call 04.5148550
Call 04.5148550
Call 04.5148550
Phản hồi, ý kiến góp ý của bạn với 1VS Phản hồi - góp ý
Hotline:(0988-721-127)
(04) 3514-85-50
(04) 3514-85-51
(04) 3514-84-30
Ý kiến nhận xét

Chị Trần Thị Lâm - Kế toán - Công ty cổ phần Tập đoàn Thái An

"...Lúc bắt đầu sử dụng, bên mình cũng gặp nhiều khó khăn vì chưa quen với phần mềm mới. Tuy nhiên khi đã hiểu các nguyên tắc làm việc của 1C thì mình nhận thấy đây là công cụ đắc lực cho người sử dụng trong việc việc kiểm tra, kiểm soát và đưa ra báo cáo giúp đơn giản hóa công việc của mình...".

Anh Trần Quang Thiện - Chủ Nhà sách cô Hường

"... Mình đặc biệt ưa dùng tính năng tổ chức danh mục phân cấp không giới hạn của phần mềm: hàng hóa và khách hàng được ghi nhận theo từng nhóm nhỏ. Điều này không chỉ hỗ đắc lực cho thu ngân bán hàng chính xác và nhanh chóng mà còn rất tiện dụng khi thiết lập và quản lý các chương trình khuyến mại, chiết khấu cho từng nhóm khách hàng theo một hoặc nhiều nhóm sản phẩm...".

1C:Quản lý tổng thể (ARM)


Đăng ký nhận bài viết

  1. Bạn đang dùng giải pháp 1C nào?
    1. 1C:KẾ TOÁN 8
      1181 (98.83%)
    2. 1C:Bán lẻ 8
      305 (25.52%)
    3. 1C:Quản lý thương mại
      140 (11.72%)
    4. 1C:Quản lý tổng thể (ARM)
      93 (7.78%)
    5. 1C:Quản lý văn bản (ECM)
      72 (6.03%)
    6. 1C:Hóa đơn
      67 (5.61%)
    7. 1C:Hiệu thuốc
      54 (4.52%)
    8. 1C:Cửa hàng điện máy
      52 (4.35%)
    9. 1C:Nhà hàng
      47 (3.93%)

Thông tin công nghệ, giải pháp

Tích hợp hệ thống (phần 1): các mức độ và mô hình tích hợp
27/12/2016 - Số lần đọc: 637

Trong quá trình triển khai các giải pháp phần mềm cho doanh nghiệp, vấn đề thường đặt ra là làm thế nào để hệ thống mới có thể làm việc đồng bộ với các hệ thống hiện có. Trong quá trình trao đổi thảo luận, chúng tôi nhận thấy rằng, nhiều khi khách hàng không hiểu hết được các vấn đề giải quyết, và các nhà cung cấp phần mềm trước đây của khách hàng cũng không thể thống nhất được với các bên về việc triển khai yêu cầu này. Điều này dẫn đến những tình huống vượt quá khuôn khổ của dự án, hoặc nằm ngoài dự toán chi phí cần thiết. 

Để có thể hiểu rõ hơn về bài toán tích hợp hệ thống, chúng tôi xin được chia sẻ một số thông tin để có thể định hướng trong việc đưa ra các yêu cầu về tích hợp.

Các mức độ tích hợp

Có thể nói rằng, tích hợp hệ thống là bài toán khá lớn, có rất nhiều nghiên cứu và các giải pháp. Chúng ta cùng bắt đầu bằng việc phân loại các mức tích hợp, trong các giáo trình về CNTT có chỉ ra 5 mức độ:  

  • Tích hợp ở mức độ dữ liệu;  
  • Tích hợp ở mức độ quy trình nghiệp vụ;  
  • Tích hợp ở mức độ ứng dụng;  
  • Tích hợp dựa trên các chuẩn;  
  • Tích hợp ở mức độ nền tảng.  

Cùng thử xem qua về các mức độ tích hợp này.

Tích hợp dữ liệu

Tích hợp dữ liệu được dựa trên cơ sở tạo mã định danh và danh mục hóa các dữ liệu nhằm mục đích sử dụng tiếp theo. Ở mức độ tích hợp này có tiến hành các công việc sau:  

  • Định danh dữ liệu: chỉ ra vị trí nguyên thủy trong hệ thống phân tán;  
  • Thể loại hóa dữ liệu: phân loại dữ liệu và gán nhãn thể loại;  
  • Xây dựng mô hình siêu dữ liệu (Metadata), nghĩa là mô tả dữ liệu về dữ liệu.  

Sau khi thực hiện các bước trên, dữ liệu có thể được phân phối dùng chung hoặc sử dụng trong các hệ thống cơ sở dữ liệu.  

Tích hợp quy trình nghiệp vụ

Mức độ tích hợp này được dựa trên cơ sở xác định, thực thi và quản lý các quy trình trao đổi thông tin giữa các hệ thống thông tin khác nhau. Đây là công việc tự động hóa các quy trình nghiệp vụ của doanh nghiệp trên cơ sở hạ tầng thống nhất để tạo và quản lý các quy trình nghiệp vụ.  

Tích hợp quy trình nghiệp vụ cho phép hợp nhất các thao tác vào một quy trình nghiệp vụ, trong đó các thao tác được thực hiện ở các hệ thống thông tin khác nhau. Việc tích hợp này cho phép:  

  • Mô hình hóa các quy trình nghiệp vụ; 
  • Đảm bảo tuân thủ các quy tắc thực hiện các quy trình nghiệp vụ; 
  • Cung cấp cho người sử dụng một giao diện thống nhất để thực hiện các nhiệm vụ trong khuôn khổ một quy trình nghiệp vụ; 
  • Đảm bảo việc kiểm soát thực hiện và rà soát các quy trình nghiệp vụ; 
  • Nhận được dữ liệu để phân tích việc thực hiện và tối ưu hóa các quy trình nghiệp vụ.

Tích hợp ứng dụng

Mức độ tích hợp này được dựa trên việc hợp nhất dữ liệu hoặc chức năng của một ứng dụng với một ứng dụng khác, nhờ đó mà đảm bảo việc tích hợp gần như trong thời gian thực. Mức độ tích hợp này là tổ chức việc tương tác giữa các ứng dụng bằng cách chuyển dữ liệu giữa các ứng dụng mà không làm thay đổi ứng dụng, hoặc chỉ thay đổi rất ít.  

Lúc này, dữ liệu có thể được chuyển dưới dạng nguyên thủy hoặc đã được chuyển đổi theo các yêu cầu cần thiết.  

Tích hợp dựa trên các chuẩn

Mức độ tích hợp này được dựa trên việc các định dạng dữ liệu chuẩn (ví dụ: CORBA, JavaRMI, XML). Trong số các chuẩn, có thể kể tới:  

  • COM / DCOM (Component Object Model / Distributed Component Object Model) của Microsoft;  
  • Enterprise Java Beans – EJB (cạnh tranh với DCOM) với giao thức Java Remote Method Invocation (Java RMI) của Sun Microsystems (hiện tại là Oracle);  
  • Kiến trúc CORBA, được hỗ trợ bởi cộng đồng OMG;  
  • Chuẩn XML phát triển ứng dụng Web của World Wide Web Consortium (W3C);  

Thông thường, các công cụ tích hợp ứng dụng trong nhóm này thường được dùng là các dịch vụ lớp giữa (Middleware). Các công cụ này dùng để đảm bảo làm việc nhịp nhàng cho các ứng dụng trong môi trường mạng không đồng nhất bằng cách cùng cấp các dịch vụ dưới dạng giao diện lập trình ứng dụng (API).  

Các dịch vụ Middleware, thông thường, bao gồm các dịch vụ điều khiển từ xa RPC (Remote Procedure Call), trao đổi thông điệp và dịch vụ trung gian (Broker) để truy vấn tới ORB (Object Request Brokers), màn hình theo dõi giao dịch.

Tích hợp nền tảng

Mức độ tích hợp này liên quan đến các quy trình và công cụ dùng để tích hợp các hệ thống nằm rải rác trong một mạng không đồng nhất (nghĩa là có nhiều kiến trúc phần cứng và hệ điều hành khác nhau) để các hệ thống có thể thực hiện việc trao đổi thông tin một cách an toàn và tối ưu.  

Các công việc tích hợp bao gồm tích hợp các kiến trúc cơ bản, cũng như phần mềm và phần cứng. Kết quả là dữ liệu có thể được chuyển giữa các hệ thống một cách thuận tiện.  

Các mô hình tích hợp

Hiện nay, thường có 2 cách tiếp cận để tiến hành tích hợp:  

  • Tích hợp theo dạng “điểm-điểm” (Point-to-Point Intergration);  
  • Và tích hợp theo trục dịch vụ (Service Bus Intergration).  

Mô hình Điểm-Điểm

Theo mô hình này, các ứng dụng thiết lập kết nối trực tiếp với nhau. Mô hình này thường được sử dụng trong giai đoạn đầu của dự án tích hợp, bởi vì khá đơn giản. Lúc này, để các ứng dụng tương tác được với nhau:

  • Cần biết địa chỉ của ứng dụng đối ứng;  
  • Cần biết cách chuyển đổi giữa các định dạng dữ liệu mà được sử dụng trong các ứng dụng.  

Việc tích hợp có thể sử dụng giao diện lập trình ứng dụng riêng (API), hoặc đọc và ghi trực tiếp vào cơ sở dữ liệu của ứng dụng đối ứng. Ở trong trường hợp cuối, doanh nghiệp sẽ có được một giải pháp tích hợp mang tính “cục bộ”, và cần phải tính đến những yêu cầu phức tạp trong việc bảo trì sau này.  

Trong mô hình Điểm-Điểm, có thể sử dụng phần mềm chuyên dụng  để kết nối với một hoặc cả 2 ứng dụng, ví dụ như bộ chuyển đổi trung gian (Adapter Broker).

Mô hình kết nối Điểm - Điểm


Mô hình trục tích hợp (Enterprise Service Bus – ESB)

Dưới góc độ kiến trúc, ESB một giải pháp phần mềm, được dùng để đảm bảo việc tương tác giữa các ứng dụng được tích hợp thông qua một điểm duy nhất bằng cách cung cấp cho người lập trình và quản trị hệ thống các công cụ thống nhất và tập trung để lập trình, kiểm thử và kiểm soát tất cả các kịch bản tích hợp.

 Mô hình trục tích hợp

Trong số các giải pháp thuộc lớp ESB có tiếng trên thế giới có thể kể đến:  

  • IBM với các dòng sản phẩm WebSphere;  
  • Software AG với nền tảng tích hợp webMethods; 
  • Oracle với một loạt các ứng dụng khác nhau; 
  • Tibco với dòng sản phẩm Business Integration; 
  • Và các hãng khác Sun (Glassfish), Progress (Sonic), Fujitsu...

Các chức năng của giải pháp tích hợp

Bất kỳ giải pháp tích hợp nào cũng đều cần thực hiện 4 chức năng công nghệ chính sau: kết nối đến môi trường tích hợp; vận chuyển dữ liệu; chuyển đổi dữ liệu; và cuối cùng là xử lý dữ liệu.  

  • Kết nối: là mô tả cơ chế về cách tham gia của ứng dụng vào môi trường tích hợp. Chức năng kết nối là xác định cách thức để môi trường tích hợp duy trì liên kết với ứng dụng, và cách thức để ứng dụng có thể “trò chuyện” với môi trường tích hợp.  
  • Vận chuyển: là cơ chế để thực hiện việc chuyển dữ liệu giữa các hệ thống một cách an toàn và ổn định. Chức năng vận chuyển là xác định cách thức an toàn để vận chuyển thông tin từ bất kỳ nguồn nào đến điểm nhận thông tin.  
  • Chuyển đổi: bởi vì bất kỳ giải pháp tích hợp nào cũng cần làm việc với các thông tin được cất giữ theo các cấu trúc và trình bày theo các định dạng khác nhau, cho nên, giải pháp tích hợp cần phải có các công cụ để chuyển đổi định dạng thông tin từ kiểu dữ liệu này sang kiểu khác. Ngoài ra, cần phải có các cơ chế và chức năng chuyển đổi để đảm bảo giảm bớt thời gian và tài nguyên khi triển khai và bảo trì hệ thống.  
  • Xử lý: là quy tắc mà cần tuân thủ khi thực hiện trao đổi giữa các ứng dụng, bao gồm cả thời gian và trình tự. Các quy tắc này xác định kiểu giao tiếp giữa các ứng dụng, xác định mức độ cần thiết để thu thập thông tin bổ sung, kiểm tra tính chính xác và kiểm soát tính toàn vẹn của dữ liệu, ngoài ra còn quản lý việc xử lý các lỗi trao đổi.  

Một số giải pháp tích hợp thường dùng

Các giải pháp tích hợp thường được sử dụng hiện nay gồm:  

  • Trao đổi dữ liệu qua tệp tin;  
  • Trao đổi dữ liệu bằng dịch vụ truyền thông điệp;  
  • Kết nối trực tiếp đến cơ sở dữ liệu;  
  • Trao đổi dữ liệu E-mail;  
  • Kết nối qua Web-service;  
  • Kết nối đến hệ thống khác qua COM+. 

Trao đổi dữ liệu qua tệp tin

Nguyên tắc của giải pháp này là một hệ thống sẽ định kỳ xuất dữ liệu ra một tệp tin (đặt trên một thư mục trọng mạng cục bộ hoặc Web nào đó), sau đó hệ thống nhận dữ liệu cũng sẽ định kỳ quét thư mục (thông qua giao thức chuyển tập tin như FTP) hoặc truy nhập đường liên kết để tải tập tin về. Đây là một trong những giải pháp tương đối đơn giản, thường được sử dụng trong việc tích hợp ứng dụng với quy mô không lớn và không phức tạp. Ưu điểm đáng kể của giải pháp này là cho phép thực hiện cơ chế không đồng bộ, các hệ thống thông tin thực hiện trao đổi dữ liệu không phải chờ nhau và cũng không cần sẵn sàng tại mọi thời điểm. Tuy nhiên việc trao đổi dữ liệu sẽ chỉ được tiến hành theo một chiều.  

Trao đổi dữ liệu bằng dịch vụ truyền thông điệp

Giải pháp này chỉ được áp dụng nếu hai hệ thống (cho và nhận dữ liệu) cùng có khả năng sử dụng cùng một loại dịch vụ truyền thông điệp nào đó, ví dụ dịch vụ truyền thông điệp Java (Java Message Service). Lúc này, một hệ thống sẽ gửi dữ liệu dưới dạng các thông điệp tới một hệ thống trung gian (ứng dụng quản lý thông điệp - Message Broker) và sau đó được chuyển tiếp tới hệ thống nhận dữ liệu. Đối với các hệ thống dựa trên Java, dịch vụ truyền thông điệp Java được cung cấp dưới dạng một giao diện lập trình API chuẩn để truy cập và giao tiếp với các hệ thống thông tin. Giải pháp này cho phép dữ liệu có thể được chia sẻ hai chiều.

Kết nối trực tiếp đến cơ sở dữ liệu

Đây là cách thức mà một hệ thống kết nối và truy cập trực tiếp vào cơ sở dữ liệu của hệ thống khác, với điều kiện được cấp quyền kết nối vào cơ sở dữ liệu (sử dụng các giao thức kết nối cơ sở dữ liệu Database Connectivity như JDBC, ODBC).  Trường hợp cơ sở dữ liệu này không cung cấp giao thức kết nối cơ sở dữ liệu cho các hệ thống thông tin khác, thì có thể phân tích cơ sở dữ liệu và xây dựng Web-service đặt tại đầu 2 hệ thống. Đối với giải pháp này, nếu dữ liệu nhận được từ hệ thống thông tin chia sẻ dữ liệu là dữ liệu thô (trực tiếp, không qua xử lý) thì cần xem xét các yếu tố liên quan đến đường truyền và tính toàn vẹn của dữ liệu nhận về.  

Trao đổi dữ liệu E-mail

Giải pháp này tương đối dễ thực hiện và cũng cho phép thực hiện cơ chế không đồng bộ, phù hợp với trường hợp không quan tâm đến vấn đề hiệu năng và tốc độ của việc kết nối, trao đổi dữ liệu. Cùng với việc sử dụng các giao thức chuẩn SMTP, IMAP và POP3, giải pháp này cho phép việc trao đổi, giao tiếp giữa các ứng dụng dựa trên E-mail được thực hiện một cách dễ dàng. Theo đó, mô-đun thực hiện trao đổi dữ liệu sẽ được cài đặt trên hệ thống chia sẻ dữ liệu và thực hiện gửi tới một địa chỉ E-mail định sẵn nội dung dữ liệu (có thể dưới định dạng XML). Hệ thống thông tin nhận dữ liệu sẽ định kỳ kiểm tra E-mail để lấy dữ liệu ra. Các vấn đề liên quan đến sự khác biệt về hệ thống mạng, tường lửa, mạng riêng ảo hay độ sẵn sàng của các hệ thống thông tin sẽ gián tiếp được giải quyết nhờ vào tính chất hàng đợi (Queue) của E-mail. Giải pháp sẽ đạt hiệu quả trong môi trường mạng nội bộ hoặc yêu cầu về an toàn, an ninh thông tin là tối thiểu.  

Kết nối qua Web-service

Giải pháp này dựa trên nhiều giao thức như: SOAP, XML/HTTP, RESTful HTTP, CORBA; các phương thức trao đổi liên lạc như: HTTP, JMS, JBI...; các chuẩn dịch vụ Web, bao gồm: SOAP, WS-I Basic Profile, WSDL, WS-Addressing, WS-Policy, WS-ReliableMessaging, WS Security, WS-SecurityPolicy, WS-SecureConversation, và WS-Trust. Giải pháp này phụ thuộc vào cách thức việc hệ thống thông tin chia sẻ dữ liệu xây dựng sẵn các Web-service và cho phép hệ thống thông tin nhận dữ liệu sử dụng các Web-service này hay không. Trong một số trường hợp, hệ thống thông tin Địa phương sẽ được bổ sung các bộ chuyển đổi (Adaptor) để giao tiếp với hệ thống thông tin tại Trung ương dựa trên tập hợp các Web-service do hệ thống tại Trung ương cung cấp. So với các giải pháp đã liệt kê, giải pháp này có tính toàn diện cao hơn, cung cấp khả năng kết nối, liên thông không chỉ cho dữ liệu mà còn nghiệp vụ, bảo đảm tính toàn vẹn của dữ liệu và an toàn an ninh thông tin.  

Kết nối đến hệ thống khác qua COM+

Giải pháp này dựa trên chuẩn phát triển phần mềm COM của Microsoft, theo đó có thực các dạng công nghệ: MS OLE Automation, ActiveX, DCOM, COM+, DirectX, và cả XPCOM.  

Các phần mềm được phát triển theo chuẩn COM thì thực tế không phải là 1 thực thể độc lập, mà trong đó có bao gồm tập hợp các cấu phần (COM-Component) và có tương tác với nhau. Mỗi cấu phần đều có mã định danh (GUID) và có thể được sử dụng bởi nhiều phần mềm khác nhau. Các cấu phần tương tác với các chương trình khách thông qua một giao diện (COM-Interface), trong đó có bao gồm các thuộc tính và phương thức (API).  

Việc sử dụng COM+ cho phép kết nối với các ứng dụng cũng như các thành phần COM khác, khi đó, từ một chương trình, có thể kết nối với chương trình khác để lấy ra và xử lý dữ liệu mà không cần phải mở (chạy) chương trình thứ 2.

Một số điểm cần lưu ý khi đồng bộ hóa

Khi triển khai ứng dụng cho các doanh nghiệp, chúng tôi thường nhận được yêu cầu tích hợp với hệ thống hiện có. Các giải pháp có tiếng của nước ngoài thường có sẵn các công cụ tích hợp và kèm theo các tài liệu mô tả khá chi tiết. Còn đối với các giải pháp của Việt Nam, việc tích hợp cần có sự trợ giúp của đơn vị phát triển phần mềm. Tuy nhiên, trong phần lớn các trường hợp, điều đầu tiên là cần thống nhất các khái niệm và mức độ yêu cầu tích hợp.  

Khi làm việc với các các đơn vị phát triển phần mềm, chúng tôi thường đặt ra các vấn đề để các bên có thể nhanh chóng hiểu và đưa ra giải pháp phù hợp. Các vấn đề thường được lưu ý tới bao gồm:  

  • Cấu trúc dữ liệu: bao gồm mô tả cấu trúc các bảng dữ liệu và các kiểu trường dữ liệu trong đó, cũng như các liên kết giữa các bảng. Để thuận tiện trong việc tích hợp, có thể cần mô tả thêm các bảng dữ liệu tạm thời (dựa vào các truy vấn). 
  • Đồng nhất và chuyển đổi dữ liệu: dữ liệu trong 2 hệ thống cần phải được định danh và cần có công cụ để chuyển đổi dữ liệu. 
  • Chiều trao đổi dữ liệu: Dữ liệu ban đầu có thể được phát sinh từ một hệ thống, hoặc trên cả 2 hệ thống. Cần xác định hướng trao đổi dữ liệu chính (được lấy làm ưu tiên). Trong việc xác định chiều trao đổi, có thể cần xác định xem mức độ chủ động của việc trao đổi, để xem hệ thống nào là hệ thống khởi xướng trao đổi (có các dạng trao đổi chủ động và thụ động). 
  • Vấn đề về thay đổi dữ liệu: Sau khi được trao đổi từ hệ thống này sang hệ thống khác, dữ liệu vẫn có thể thay đổi. Hơn nữa, việc thay đổi có dữ liệu có thể được thực hiện tại cơ sở thông tin ban đầu, hoặc cơ sở thông tin nhận dữ liệu. Trong trường hợp này, cần lưu ý tới việc cập nhật lại thông tin thay đổi. Vấn đề này cũng liên quan tới mã định danh của dữ liệu. Ví dụ, đối với danh mục hàng hóa, có thể lấy mã hàng làm mã định danh, dùng cho việc định danh hàng hóa trong 2 hệ thống. Tuy nhiên, nếu thay đổi mã hàng trong 1 hệ thống thì có thể làm ảnh hưởng đến việc trao đổi sau này. 
  • Theo dõi các thay đổi dữ liệu để trao đổi: Dữ liệu sau khi trao đổi thì sẽ không cần tham dự vào lần trao đổi lần sau nữa nhằm mục đích làm giảm dung lượng mỗi lần trao đổi. Để đảm bảo việc này, cần đánh dấu xem những đối tượng dữ liệu nào đã được trao đổi, và chưa được trao đổi. Việc theo dõi các thay đổi dữ liệu để trao đổi như vậy cần được thực hiện ở cả 2 hệ thống mà có tham gia vào tích hợp. 
  • Ưu tiên ghi nhận các thay đổi khi đồng bộ hóa: Một đối tượng dữ liệu có thể được thay đổi ở cả 2 hệ thống trước khi được trao đổi lần sau. Trong lần trao đổi kế tiếp, sẽ nảy sinh ra xung đột và cần phải xác định mức độ ưu tiên, xem dữ liệu ở hệ thống nào sẽ được ghi nhận chính thức, và dữ liệu nào sẽ bị ghi đè. 
  • Cấm trao đổi dữ liệu: Việc trao đổi dữ liệu cần được thực hiện theo một số quy tắc, trong đó có thể giới hạn về thời gian. Nếu như trong một hệ thống đã đặt ngày cấm kết nhập dữ liệu liệu và khi bên hệ thống đối ứng có thay đổi dữ liệu trước ngày đó thì sẽ không thực hiện trao đổi dữ liệu. 
  • Giao tác trao đổi dữ liệu (kích cỡ gói tin trao đổi): Đối với các hệ thống có cường độ sử dụng cao, mỗi lần trao đổi có thể tạo ra gói tin với dung lượng lớn. Để tối ưu hóa, cần có cách để tách nhỏ gói tin lớn thành nhiều gói tin nhỏ hơn bằng cách thiết lập tham số kích thước tối đa của gói tin trao đổi. 
  • Vêch dữ liệu sau khi trao đổi: Dữ liệu trên 2 hệ thống sau khi đồng bộ hóa vẫn có thể bị lệch (vênh dữ liệu). Lúc này, cần có công cụ để so sánh và tìm ra các điểm vênh, và công cụ để tái đồng bộ những phần dữ liệu bị vênh đó. 
Có thể còn có nhiều điểm khác cần lưu ý, tùy thuộc vào mức độ tích hợp và mô hình tích hợp, và từng giải pháp phần mềm cụ thể. 



Tin tức khác


Báo chí viết về 1VS
25/12/2015
Giải đáp vướng mắc trong lập Báo cáo tài chính năm 2015:

"Nội dung chính của sự kiện là tập trung hướng dẫn rà soát từng tài khoản trước khi lập báo cáo tài chính, chỉ ra những điểm cần lưu ý, hay sai sót, và những rủi ro về thuế khi lập báo cáo tài chính năm 2015. Trong đó, có nêu rõ những khác biệt giữa các đơn vị thực hiện theo quyết định 48 và thông tư 200".

10/08/2015
Ứng dụng dịch vụ đám mây cho các giải pháp kế toán và quản lý 1C - Đài Truyền hình Kỹ thuật số VTC (VTC1):
Điện toán đám mây là xu thế tất yếu của nền công nghệ hiện đại. Với việc đưa lên mây nhiều giải pháp như kế toán, bán hàng, quản lý tổng thể doanh nghiệp... dịch vụ đám mây của 1C được nhiều doanh nghiệp ứng dụng để tự động hóa công tác quản lý trong nhiều lĩnh vực. 
01/06/2015
Phần mềm kế toán 1C: Một dữ liệu cho hàng trăm khách hàng - Báo Tài chính điện tử:
"... Thứ nhất, đám mây 1C của chúng tôi sử dụng cơ chế chia tách dữ liệu Multitenancy. Với cơ chế này, 1VS chỉ cần quản lý 1 dữ liệu phần mềm duy nhất dùng chung cho hàng trăm, hàng nghìn khách hàng của mình. Trong đó, có chia tách thành các vùng dữ liệu riêng của mỗi khách hàng, đảm bảo tính riêng tư của từng vùng dữ liệu. Nhờ công nghệ này, chúng tôi giảm được tới mức tối thiểu về thời gian, công sức và chi phí cho việc bảo trì sản phẩm trong đám mây.".