Mua hàng:0983715689 Diễn đàn   Đặt câu hỏi
Hỗ trợ sử dụng Tư vấn mua hàng
Call 04.5148550
Call 04.5148550
Call 04.5148550
Call 04.5148550
Call 04.5148550
Phản hồi, ý kiến góp ý của bạn với 1VS Phản hồi - góp ý
Hotline:(0988-721-127)
(04) 3514-85-50
(04) 3514-85-51
(04) 3514-84-30
Ý kiến nhận xét

Chị Trần Thị Lâm - Kế toán - Công ty cổ phần Tập đoàn Thái An

"...Lúc bắt đầu sử dụng, bên mình cũng gặp nhiều khó khăn vì chưa quen với phần mềm mới. Tuy nhiên khi đã hiểu các nguyên tắc làm việc của 1C thì mình nhận thấy đây là công cụ đắc lực cho người sử dụng trong việc việc kiểm tra, kiểm soát và đưa ra báo cáo giúp đơn giản hóa công việc của mình...".

Anh Trần Quang Thiện - Chủ Nhà sách cô Hường

"... Mình đặc biệt ưa dùng tính năng tổ chức danh mục phân cấp không giới hạn của phần mềm: hàng hóa và khách hàng được ghi nhận theo từng nhóm nhỏ. Điều này không chỉ hỗ đắc lực cho thu ngân bán hàng chính xác và nhanh chóng mà còn rất tiện dụng khi thiết lập và quản lý các chương trình khuyến mại, chiết khấu cho từng nhóm khách hàng theo một hoặc nhiều nhóm sản phẩm...".

1C:Quản lý tổng thể (ARM)


Đăng ký nhận bài viết

  1. Bạn đang dùng giải pháp 1C nào?
    1. 1C:KẾ TOÁN 8
      1181 (98.83%)
    2. 1C:Bán lẻ 8
      305 (25.52%)
    3. 1C:Quản lý thương mại
      140 (11.72%)
    4. 1C:Quản lý tổng thể (ARM)
      93 (7.78%)
    5. 1C:Quản lý văn bản (ECM)
      72 (6.03%)
    6. 1C:Hóa đơn
      67 (5.61%)
    7. 1C:Hiệu thuốc
      54 (4.52%)
    8. 1C:Cửa hàng điện máy
      52 (4.35%)
    9. 1C:Nhà hàng
      47 (3.93%)

Thông tin công nghệ, giải pháp

Công nghệ thông tin trong thương mại
11/11/2013 - Số lần đọc: 3365

Ngày nay, thật khó có thể bỏ qua việc ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong lĩnh vực thương mại. Để tiến hành ghi nhận cho hoạt động thương mại nào, dù là rất nhỏ, cũng cần có ít nhất là bảng tính điện tử. Càng có nhiều hoạt động thương mại thì doanh nghiệp thương mại càng cần có các luồng thông tin để hỗ trợ luân chuyển hàng hóa và cho phép đưa ra những quyết định quản trị đúng đắn.

Thương mại được coi một trong những lĩnh vực hoạt động đầu tiên của loài người bắt đầu triển khai ứng dụng CNTT. Có thể nói rằng, khái niệm "hệ thống quản lý tự động" xuất hiện đầu tiên chính là từ hoạt động thương mại.

Từ xưa, cơ quan thuế thường không cần kiểm soát hóa đơn tính tiền, mà chính những người chủ cửa hàng cần làm việc này để theo dõi công việc của nhân viên bán hàng. Người chủ doanh nghiệp dạo qua các điểm bán hàng của mình, thu tiền và kiểm tra máy tính tiền. Nếu doanh thu thực tế không trùng với hóa đơn tính tiền thì cần làm rõ với nhân viên bán hàng.

Nhiều năm trôi qua, thương mại ngày càng phát triển, cùng với đó là sự phát triển của CNTT. Đương nhiên, con người đã sản xuất được những loại máy tính tiền "thông minh hơn", dễ sử dụng và thuận tiện hơn cho người dùng, nhưng bản chất của quá trình nói trên hầu như không thay đổi. Chỉ có quy mô, phạm vi hoạt động thương mại, hàng hóa, lượng khách hàng… đã tăng hơn so với thế kỷ trước. Trong hoàn cảnh đó, nếu không ứng dụng CNTT thì việc điều hành doanh nghiệp sẽ trở nên vô cùng khó khăn, thậm chí, đôi khi là không thể.

Có thể phân chia hoạt động thương mại hiện đại theo phân khúc hoạt động chính sau (xem biểu đồ).

Bussiness to Bussiness
Sơ đồ. Phân loại lĩnh vực thương mại 

Bán buôn và hoạt động phân phối

Bán buôn được xem là mắt xích chủ chốt trong chuỗi cung ứng. Nhiệm vụ của bán buôn là gắn kết nhà sản xuất và người tiêu dùng, những người này có thể cách xa nhau, thậm chí là ở những quốc gia khác nhau.

Chỉ những nhà sản xuất lớn trên thế giới mới có thể xây dựng cho riêng mình một hệ thống cung ứng mà không cần đến những người trung gian. Công việc của người trung gian (nhà bán buôn hoặc nhà phân phối) đã từ lâu không còn đơn thuần là "mua và bán", mà đó thực sự là một quy trình phức tạp, trong đó bao gồm:

  • thu thập và phân tích nhu cầu của khách hàng;
  • thu hút khách hàng mới và giữ chân khách hàng thường xuyên;
  • tính toán và duy trì mức tồn kho tối ưu;
  • quản lý đơn hàng;
  • quản lý cung ứng;
  • quản lý cung ứng nội bộ và cung ứng vận tải.

Tất cả những nhiệm vụ này đều có thể được giải quyết bởi hệ thống quản lý hàng hóa, mô-đun quản lý thương mại trong hệ thống ERP (Enterprise Resource Planning). Các vấn đề kho bãi được giải quyết trong hệ thống quản lý kho bãi WMS (Warehouse Management System), vấn đề về vận tải - hệ thống quản lý vận tải TMS (Transport Management System). Nhiệm vụ tương tác với bên ngoài được giải quyết trong hệ thống trao đổi dữ liệu điện tử EDI (Electronic Data Interchange). Nhiệm vụ duy trì khách hàng thân thiết và các nhiệm vụ về Marketing được giải quyết trong cùng một hệ thống quản lý hàng hóa, hoặc trong các mô-đun của hệ thống ERP và hệ thống quản lý quan hệ khách hàng CRM (Customer Relationship Menagement).

Xu hướng phát triển của bán buôn và hoạt động phân phối, một mặt, bị chi phối bởi điều kiện thị trường, mặt khác, bởi sự phát triển của CNTT.

Điều kiện thị trường bao gồm tất cả những yếu tố có thể xảy ra sẽ thúc đẩy tăng trưởng tích cực của các doanh nghiệp thương mại vốn đang gặp khó khăn. Đứng trước các thách thức, sự cạnh tranh sẽ trở nên bùng nổ hơn. Cùng một sản phẩm, nhưng có thể có tới hàng chục, hàng trăm nhà cung cấp với cùng một mức giá. Sự cạnh tranh về giá đã trở thành thứ yếu, bởi vì hầu như không còn đất để triển khai các chương trình khuyến mại, giảm giá nhằm thúc đẩy mua hàng giữ chân các khách hàng trung thành.

Trong điều kiện như vậy, công cụ hữu hiệu duy nhất để nâng cao khả năng cạnh tranh với các đối thủ kinh doanh khác là chất lượng phục vụ khách hàng. Đương nhiên, trước hết, đó là giao hàng đúng hạn, nhưng chỉ vậy thôi thì vẫn chưa đủ. Các doanh nghiệp còn phải tự nâng cao chất lượng phục vụ và các gói dịch vụ như:

  • hệ thống đặt hàng tự động;
  • tích hợp hệ thống thông tin giữa người bán và người mua;
  • thông báo kịp thời cho khách hàng về tiến trình thực hiện đơn hàng.

Sự phát triển của CNTT ngày nay được thể hiện tích cực trong phân khúc di động. Đối với lĩnh vực thương mại, điều đó có ý nghĩa là nhân viên sẽ có chỗ làm việc được tự động hóa bằng máy tính bảng hay điện thoại thông minh, điều mà trước đây họ chưa từng có.

Một xu hướng khác không kém phần quan trọng, đó là sự phát triển của điện toán đám mây, nó thúc đẩy nhanh chóng việc giải quyết các bài toán tích hợp: bao gồm kết nối tất cả các chi nhánh ở các vị trí địa lý cách xa nhau vào một hệ thống thông tin, tích hợp đồng nhất hoặc tích hợp với hệ thống thông tin của các đối tác bên ngoài khác.

Khi sử dụng những dịch vụ này và hệ thống thông tin một cách riêng biệt, hoặc khi kết hợp với nhau, hoặc triển khai hệ thống tích hợp tổng thể, mà ở đó, tất cả các mô-đun được vận hành một cách hài hòa, doanh ngiệp thương mại có thể nhanh chóng giải quyết các nhiệm vụ đề ra.

Bán hàng tự sản xuất

Bộ phận tiêu thụ của doanh nghiệp sản xuất thực chất là nhà phân phối đầu tiên trong chuỗi cung ứng, do đó nó giải quyết hầu hết các nhiệm vụ của các doanh nghiệp bán buôn và phân phối. Sự khác biệt là ở chỗ, các doanh nghiệp này không làm việc với các nhà cung cấp bên ngoài mà với chính doanh nghiệp mình. Như vậy, để bộ phận sản xuất có thể lên kế hoạch hoạt động theo các đơn hàng hiện có thì công việc của bộ phận bán hàng tự sản xuất cần phải được tự động hóa trong khuôn khổ hệ thống ERP thống nhất.

Phụ thuộc vào từng trường hợp cụ thể, doanh nghiệp có thể sử dụng thêm các hệ thống WMS, TMS, CRM hay các mô-đun sẵn có trong hệ thống ERP mà thông thường có những tính năng giản lược so với các giải pháp chuyên dụng.

Dựa trên xu hướng phát triển chủ đạo của thị trường thực tế, các doanh nghiệp có thể xác định được phương hướng sản xuất và kiểm soát được chuỗi cung ứng của họ, cắt giảm chi phí sản xuất và tối đa hóa lợi nhuận. Do đó, hệ thống thông tin cần phải giải quyết hàng loạt bài toán tích hợp trong chuỗi cung ứng.

Bán lẻ

Bán lẻ là "nút thắt cổ chai", là nơi hẹp nhất trong chuỗi cung ứng. Không một cửa hàng nào có thể trưng bày hết tất cả các mặt hàng tự sản xuất và phân phối. Nguyên nhân là hạn chế về diện tích mặt bằng, quầy kệ. Nhiệm vụ của nhà bán lẻ hiệu quả là sắp xếp lên kệ các mặt hàng mang lại lợi nhuận lớn nhất.

Nhờ vào vị thế chiến lược của mình trong chuỗi cung ứng nên các doanh nghiệp bán lẻ có thể đề ra quy tắc cho tất cả các những người tham gia thị trường. Ví dụ, các cửa hàng sẽ không thanh toán tiền ngay lập tức sau khi nhận hàng. Điều kiện về thời hạn thanh toán trả chậm ít nhất là 40 ngày thường được ghi trong hầu hết các hợp đồng cung ứng bán lẻ. Tất nhiên, trong doanh nghiệp bán lẻ có bộ phận chuyên môn chịu trách nhiệm ký kết hợp đồng và kiểm soát việc thanh toán theo hợp đồng.

Đối với hoạt động bán lẻ, một yếu tố quan trọng là tổ chức và quản lý chuỗi cung ứng. Một phần trong số bài toán cung ứng được chuyển sang cho các nhà cung cấp, một số nhà bán lẻ tự giải quyết bài toán này bằng cách tự xây dựng trung tâm phân phối và bộ phận vận tải.

Trong lĩnh vực bán lẻ có 3 lớp hệ thống thông tin:
  • Front–office: giải quyết các bài toán về phục vụ khách hàng, làm việc tại vị trí chuyên dụng được trang bị các thiết bị cần thiết (máy tính tiền, màn hình khách hàng, thiết bị thẻ thanh toán...) hoặc là các hệ thống POS.
  • In Store Solution: giải quyết các bài toán quản lý luân chuyển hàng hóa và dòng tiền trong cửa hàng, quản lý giá, vật tư, đơn hàng, nhân viên, các chương trình khuyến mại và chăm sóc khách hàng thân thiết. Ngoài ra còn có các hệ thống tổng thể hợp nhất các tính năng quản lý hàng hóa và phục vụ khách hàng. Những hệ thống như vậy thuộc lớp giải pháp Front-end.
  • Back-office: giải quyết tất cả các bài toán về kế toán và quản lý doanh nghiệp thương mại, thường là hệ thống ERP. Trong số các bài toán đặc thù của lĩnh vực bán lẻ, hệ thống này chịu trách nhiệm quản lý quan hệ với nhà cung cấp và quản lý danh điểm mặt hàng.

Trong bán lẻ có những yêu cầu rất nghiêm ngặt về độ tin cậy của hệ thống thông tin. Bởi vì nhiều cửa hàng bán lẻ làm việc 24h/ngày, 7 ngày/tuần nên hệ thống thông tin cũng được yêu cầu làm việc với công suất như vậy. "Thời gian là vàng bạc" theo nghĩa đen của nó, tất cả nhà bán lẻ đều biết giá trị của một giờ hệ thống máy tính tiền bị ngừng làm việc, giá trị của một giờ xe vận chuyển đứng chờ tại điểm dỡ hàng. Hệ thống thông tin sẽ làm nhiệm vụ phân tích và dự báo lợi nhuận của một mặt hàng hay nhóm hàng hóa mang lại, từ đó cung cấp thông tin để đưa ra các quyết định về việc nhập hàng hay không trưng bày một mặt hàng nào đó.

Ngoài ra, còn có hàng hoạt các yêu cầu chuyên môn đối với hệ thống thông tin, chúng được quyết định tùy thuộc vào các mặt hàng mà nhà bán lẻ đó kinh doanh. Ví dụ như, đối với hiệu thuốc, cần ghi nhận theo số sê-ri của từng lô thuốc, kiểm soát hàng giả, hàng nhái và các số sê-ri lô thuốc hỏng, kiểm soát phụ thu cho phép đối với các mặt hàng thuốc thiết yếu.

Đối với các nhà bán lẻ khác thì tính năng đó là thừa, họ cần tính năng khác. Trong phân khúc kinh doanh bán lẻ vật liệu xây dựng, hàng hóa gia dụng (DIY – Do it yourself) cần tiến hành ghi nhận theo nhiều chiều đo và cần phải biết chính xác, ví dụ như có 12m2 thảm, thì đó là khổ 3x4, chứ không phải là 2 lần 2x3.

Có những đặc trưng riêng trong ngành bán lẻ thời trang Fashion-retail (quần áo, giày dép, phụ kiện thời trang), trang sức vàng bạc, điện tử gia dụng, sách báo, thiết bị kính mắt, ô tô và phụ tùng ô tô… Trong thời gian gần đây, ở những thị trường bán lẻ đang phát triển có xuất hiện thêm những đặc trưng mới của phân khúc bán lẻ thực phẩm.

Tuy nhiên, nhìn chung, nội dung chức năng của của hệ thống thông tin trong phân khúc hoạt động bán lẻ chỉ thay đổi rất ít trong suốt 30 năm qua, điều này không quá bất ngờ, bởi vì bản chất và các nguyên tắc của hoạt động bán lẻ không thay đổi. Trên thực tế, nhiều nhà bán lẻ châu Âu đến nay vẫn đang tiếp tục vận hành hệ thống thông tin được thiết lập từ những năm 90 của thế kỷ trước. Sau  thời gian này, các phần mềm được chú trọng phát triển về khả năng tiện dụng (dễ sử dụng), độ tin cậy và thao tác nhanh. Các chức năng cũng có thay đổi không đáng kể, chủ yếu là phản ánh những thay đổi của pháp luật, nguyên tắc quản lý hoạt động bán lẻ và thêm một số hướng mới trong việc phát triển CNTT, bao gồm làm việc qua Internet, sử dụng các thiết bị di động, xử lý phân tích trực tuyến (OLAP – Online Analytical Proccessing)…. Và trong tương lai gần: ứng dụng các giải pháp trên di động, di trú công suất tính toán lên điện toán đám mây.

Cuộc chiến cạnh tranh trong phân khúc bán lẻ đang ngày càng trở nên khốc liệt hơn, thị trường đang tiến dần đến bão hòa. Đương nhiên, có một sự tăng trưởng nhất định là nhờ vào các khu dân cư mới, nhưng như cuộc khủng hoảng vào những năm 2008-2009 đã chỉ ra rằng, tăng trưởng không chỉ dựa vào việc mở thêm các cửa hàng mới, mà cần cắt giảm chi phí. Do đó, hệ thống thông tin phải được cải thiện ở chức năng phân tích và quản lý chi phí. Cần thu hút và giữ chân khách hàng, do đó càng cần thiết phải phát triển hệ thống quản lý khách hàng của doanh nghiệp.

Đặc biệt, các doanh nghiệp nhỏ còn có một bài toán khác. Họ phải chịu áp lực cạnh tranh rất lớn từ phía các tập đoàn bán lẻ. Các tiểu thương ở Nga gần như không có cơ hội để giành chiến thắng trong cuộc chiến này cũng như khả năng tiếp cận đến khách hàng. Tình trạng đa số các cửa hàng nhỏ hoạt động chậm chạp (do thiết kế, hàng hóa không có hạn sử dụng rõ ràng, người bán…) khiến cho người mua bị đẩy sang các chuỗi cửa hàng.

Ở phương Tây, cùng với sự hưng thịnh của hệ thống bán lẻ, các doanh nghiệp bán lẻ nhỏ đã bị đẩy đến ranh giới sống còn. Tuy nhiên, họ không chỉ sống sót mà còn phát triển mạnh mẽ. Điển hình như ở Mỹ, ở các thành phố nhỏ thường mở các cửa hàng bán lẻ ở trên con phố chính (Main Street). Khi Wal Mart (tập đoàn bán lẻ, điều hành mạng lưới bán lẻ lớn nhất thế giới) khai trương đại siêu thị ở gần đó thì doanh thu của các cửa hàng bán lẻ ngay lập tức bị tụt dốc nhanh chóng. Dường như, các cửa hàng bán lẻ đó không có chút cơ hội nào, các mặt hàng trong siêu thị đa dạng hơn, giá rẻ hơn. Nếu như các tiểu thương đó không thay đổi bất cứ điều gì trong chiến lược kinh doanh của họ hoặc nếu họ không cố gắng cạnh tranh với mạng lưới bán lẻ bằng tất cả các biện pháp thì có lẽ họ đã không tồn tại được đến ngày nay.

Có một chiến lược kinh doanh đã tạo nên hiệu quả thực tế. Thay cho hàng hóa siêu thị, họ tiếp cận khách hàng cá nhân; thay cho hàng hóa giá rẻ, họ chú trọng đến sự vượt trội về chất lượng phục vụ, hàng hóa được sản xuất, chế biến tại địa phương nên luôn tươi mới và đảm bảo chất lượng; thay vì cạnh tranh về mức giá thì họ cạnh tranh về chất lượng sản phẩm và dịch vụ. Tuy các mặt hàng tại cửa hàng bán lẻ có mức giá cao hơn so với siêu thị, nhưng chất lượng hàng hóa lại hoàn toàn khác biệt.

Các cửa hàng cỡ trung thì ảm đạm hơn. Một vài tác động thực tế đã hạn chế việc kinh doanh đồ uống có cồn. Doanh thu bán rượu bia chiếm tỷ trọng phần lớn trong tổng doanh thu của các cửa hàng, đặc biệt là những cửa hàng kinh doanh vào buổi tối và ban đêm. Một số cửa hàng thậm chí phải đóng cửa, một số khác phải thay đổi nhiều yếu tố để có cách tiếp cận hợp lý hơn đến việc tạo danh điểm mặt hàng, kiểm soát chi phí và chú ý hơn đến công việc của các nhân viên. Những cửa hàng này có sự hỗ trợ không hề nhỏ của hệ thống công nghệ thông tin. Hệ thống công nghệ thông tin đã thực hiện tất cả những gì cần thiết để điều hành doanh nghiệp hiệu quả không hề kém hơn so với các doanh nghiệp lớn, nhưng giá cả lại phải chăng hơn đối với các cửa hàng tầm trung.

Cash and Carry (Bán buôn trong bán lẻ)

Từ phương diện CNTT, Cash and Carry là sự tổng hợp tất cả các vấn đề phức tạp nhất của phân khúc B2B và B2C.

Trong phân khúc thương mại này cũng có bán buôn. Nhưng đây chỉ là bán buôn nhỏ dành cho các doanh nghiệp nhỏ mà chưa được tự động hóa. Vì vậy, bán buôn ở đây không khác nhiều so với các giao dịch trong hoạt động bán lẻ.

Ở đây cũng có cả bán lẻ, nhưng cần tiến hành kế toán riêng cho từng khách hàng. Đây không chỉ đơn thuần là bán hàng cho các khách hàng cá nhân theo hợp đồng bán hàng đại chúng (Public Offer). Đây là giao dịch dựa trên cơ sở một hợp đồng mua bán trên thị trường B2B, nhưng chỉ được thực hiện trên một máy tính tiền. Do đó hệ thống thông tin dành cho Cash and Carry cần có các tính năng cho hoạt động bán buôn và phải đủ sức chịu tải tương đương hệ thống tự động hóa bán lẻ.

Và đây là một điều kiện làm việc khắc nghiệt. Các yêu cầu về độ tin cậy và ổn định phải đạt được như đối với hệ thống bán lẻ, nghĩa là khả năng làm việc 24 x 7.

Kinh doanh trực tuyến

Nếu như quyết định mua hàng dựa trên các thông tin trên Internet thì thao tác đó được gọi kinh doanh trực tuyến. Kinh doanh trực tuyến không có những nguyên tắc cố hữu. Cách thực hiện giao dịch: có thể được diễn ra trên các cửa hàng trực tuyến, hoặc người mua gọi điện thoại cho người bán thông báo về sản phẩm mà họ muốn mua và sau đó nhận hóa đơn.

Giao dịch trực tuyến thuộc về phân khúc thương mại cả B2B và B2C, nhưng yêu cầu về hệ thống thông tin là khác nhau. Đối với B2B, điều quan trọng nhất là quan hệ khách hàng. Một giải pháp tuyệt vời cho vấn đề này là việc sử dụng hệ thống quản lý quan hệ khách hàng CRM được tích hợp với Website của doanh nghiệp, cho phép kiểm soát toàn bộ quy trình bán hàng từ khi giao tiếp lần đầu với khách hàng đến lúc họ trở thành khách hàng thân thiết, phân tích hiệu quả của các chiến dịch quảng cáo trực tuyến, tính toán mức giá hấp dẫn khách hàng.

Trong phân khúc B2C, người bán hàng tập trung nguồn lực chủ yếu vào việc tối ưu hóa công cụ tìm kiếm và quảng cáo cho Website của mình. Nguồn lực còn lại được hướng vào việc nâng cao khả năng sử dụng, tính thuận tiện khi người sử dụng làm việc. Hiện nay có rất ít người tự thành lập các Website ngay từ đầu, bởi đã có sẵn rất nhiều hệ thống quản trị nội dung Website (CMS – Content Management System), bao gồm mất phí và miễn phí. Hầu như mỗi hệ thống CMS đều có mô-đun kinh doanh trực tuyến và cửa hàng Internet.

Tất nhiên, Website đó đều cần được tích hợp với hệ thống Back-office và sẽ là một hệ thống ghi nhận hàng hóa truyền thống được sử dụng trong thương mại cổ điển. Việc tự động hóa hệ thống giao nhận hàng hóa được chú trọng đặc biệt, bao gồm: lập kế hoạch, điều phối, thậm chí là giám sát qua vệ tinh.

Theo dự báo của Morgan Stanley, trong năm 2013 thị trường kinh doanh trực tuyến của nước Nga sẽ có bước ngoặt lớn. Trong năm 2012, doanh số kinh doanh trực tuyến đạt 12 tỷ USD, chiếm 1,9% tương đương 670 tỷ USD tổng doanh số bán lẻ truyền thống.

Phân khúc kinh doanh trực tuyến đã và đang lớn mạnh cùng sự phát triển vượt bậc của lĩnh vực mạng di động, các ứng dụng cho điện thoại và CMS cũng thích ứng với cả máy tính bảng và điện thoại thông minh.

Mỗi phân khúc thương mại đều có yêu cầu riêng đối với hệ thống thông tin. Và thị trường CNTT luôn đáp ứng hoàn toàn những yêu cầu này. Phần mềm xây dựng hệ thống thông tin quản trị doanh nghiệp thương mại kế thừa những gì tốt nhất trong thực tế kinh doanh ở trong nước và quốc tế. Ví dụ, các giải pháp phần mềm để tự động hóa kinh doanh trên nền tảng "1C:DOANH NGHIỆP" đã được sử dụng thành công không chỉ ở Nga. Các doanh nghiệp thương mại chỉ cần lựa chọn công cụ tối ưu để giải quyết bài toán của mình.

Xem thêm về giải pháp phần mềm 1C

Dmitry Kuleshov, Giám đốc khối giải pháp thương mại, vận tải và cung ứng, Hãng 1C 
Nguồn: http://consulting.1c.ru/journal-article.jsp?id=445

Biên dịch: Quỳnh Mai (công ty 1VS)



Tin tức khác


Báo chí viết về 1VS
25/12/2015
Giải đáp vướng mắc trong lập Báo cáo tài chính năm 2015:

"Nội dung chính của sự kiện là tập trung hướng dẫn rà soát từng tài khoản trước khi lập báo cáo tài chính, chỉ ra những điểm cần lưu ý, hay sai sót, và những rủi ro về thuế khi lập báo cáo tài chính năm 2015. Trong đó, có nêu rõ những khác biệt giữa các đơn vị thực hiện theo quyết định 48 và thông tư 200".

10/08/2015
Ứng dụng dịch vụ đám mây cho các giải pháp kế toán và quản lý 1C - Đài Truyền hình Kỹ thuật số VTC (VTC1):
Điện toán đám mây là xu thế tất yếu của nền công nghệ hiện đại. Với việc đưa lên mây nhiều giải pháp như kế toán, bán hàng, quản lý tổng thể doanh nghiệp... dịch vụ đám mây của 1C được nhiều doanh nghiệp ứng dụng để tự động hóa công tác quản lý trong nhiều lĩnh vực. 
01/06/2015
Phần mềm kế toán 1C: Một dữ liệu cho hàng trăm khách hàng - Báo Tài chính điện tử:
"... Thứ nhất, đám mây 1C của chúng tôi sử dụng cơ chế chia tách dữ liệu Multitenancy. Với cơ chế này, 1VS chỉ cần quản lý 1 dữ liệu phần mềm duy nhất dùng chung cho hàng trăm, hàng nghìn khách hàng của mình. Trong đó, có chia tách thành các vùng dữ liệu riêng của mỗi khách hàng, đảm bảo tính riêng tư của từng vùng dữ liệu. Nhờ công nghệ này, chúng tôi giảm được tới mức tối thiểu về thời gian, công sức và chi phí cho việc bảo trì sản phẩm trong đám mây.".