Phần mềm kế toán "1C:KẾ TOÁN 8" - Kế toán chi phí sản xuất theo đơn hàng
28/10/2010 - Số lần đọc: 5660
Phương pháp tính giá thành theo đơn hàng thường được áp dụng trong lĩnh vực công nghiệp mà có xuất xưởng thành phẩm với các đặc tính riêng biệt. Người đặt hàng xác định tất cả các đặc tính của lô hàng từ trước khi xuất xưởng. Trong trường hợp này có thể quản lý kế toán chi tiết theo lô hàng xuất xưởng không chỉ theo từng mặt hàng thành phẩm, bán thành phẩm, dịch vụ mà còn để cho theo dõi chi phí sản xuất lô hàng đó. Bởi vì người đặt hàng thường phản ánh yêu cầu của mình trong chứng từ với tên gọi "Đơn hàng", cho nên chúng ta thường nói rằng, kế toán chi phí và thành phẩm xuất xưởng được tiến hành theo đơn hàng, hoặc là áp dụng phương pháp tính giá thành theo đơn hàng.
Trong chương trình, kế toán chi phí sản xuất theo đơn hàng có thể được tiến hành theo khoản mục "Nhóm sản phẩm".
Nếu như chúng ta chỉ ra số đơn hàng tại trường "Nhóm sản phẩm" trong các chứng từ ghi nhận chi phí nguyên vật liệu:
- để ghi giảm nguyên vật liệu vào thành chi phí sản xuất;
- để cung cấp dịch vụ cho doanh nghiệp khác;
thì chi phí sản xuất sẽ được phân chia theo các đơn hàng theo số thứ tự.
Nếu như chỉ ra số đơn hàng trong trường “Nhóm sản phẩm” trong các chứng từ ghi nhận việc xuất xưởng thành phẩm, bán thành phẩm và dịch vụ thì lô hàng xuất xưởng cũng được phân chia theo các số đơn hàng.
Đơn hàng 1

Ví dụ"
Giả sử, một xí nghiệp đồ gỗ nhỏ chuyên sản xuất đi-văng theo đơn hàng của khách. Ngày 10 tháng 2, có khách hàng tên là Nguyễn Văn A đã đặt đi-văng "Săc-xôn-nhia" bọc vải "Kenzo" và có tay vịn. Trong ngày, có một khách hàng khác tên Hoàng Thị B cũng đặt đi-văng "Săc-xôn-nhia" nhưng không có tay vịn và được bọc vải "Akra". Giá của Nguyễn Văn A là 16,5 triệu (chưa gồm thuế GTGT) và của Hoàng Thị B là 15 triệu.

Thành phần chi phí sản xuất trực tiếp theo các đơn hàng Nguyễn Văn A và Hoàng Thị B như sau:
|
Tên gọi chi phí
|
Đơn hàng Nguyễn Văn A
|
Đơn hàng Hoàng Thị B
|
|
Gỗ A1
|
1.500.000
|
1.500.000
|
|
Gỗ B8
|
800.000
|
800.000
|
|
Tay vịn
|
3.000.000
|
-
|
|
Đệm
|
1.500.000
|
1.500.000
|
|
Chân ghế
|
1.200.000
|
1.200.000
|
|
Đinh vít
|
300.000
|
300.000
|
|
Vải bọc
|
2.000.000
|
4.000.000
|
|
Tổng số:
|
10.300.000
|
9.300.000
|
Phân bổ chi phí sản xuất chung tại phân xưởng sản xuất đi-văng theo đơn hàng của Nguyễn Văn A và Hoàng Thị B như sau:
|
Tên gọi chi phí
|
Đơn hàng Nguyễn Văn A
|
Đơn hàng Hoàng Thị B
|
|
Chi phí nhân công
|
2.000.000
|
2.000.000
|
|
Khấu hao
|
700.000
|
700.000
|
|
Chi phí khác
|
1.000.000
|
1.000.000
|
|
Tổng số:
|
3.700.000
|
3.700.000
|
Đối với đơn hàng Nguyễn Văn A ta có:
Giá trị xuất xưởng = 10.300.000 + 3.700.000 = 14.000.000 (đồng)
Lãi gộp = 16.500.000 – 14.000.000 = 2.500.000 (đồng)
Đối với đơn hàng Hoàng Thị B:
Giá trị xuất xưởng = 9.300.000 + 3.700.000 = 13.000.000 (đồng)
Lãi gộp = 15.000.000 – 13.000.000 = 2.000.000 (đồng)
Phản ánh vào chương trình
Chi phí trực tiếp có liên quan tới bộ phận "Sản xuất đi-văng" và các nhóm sản phẩm "Đơn hàng Nguyễn Văn A" và "Đơn hàng Hoàng Thị B". Trong thành phần chi phí của đơn hàng Nguyễn Văn A không có tay vịn. Khi thực hiện các đơn hàng của Nguyễn Văn A và Hoàng Thị B có sử dụng các loại vải khác nhau.

Xuất xưởng tại bộ phận "Sản xuất đi-văng" và nhóm sản phẩm "Đơn hàng Nguyễn Văn A" và "Hoàng Thị B". Cùng xuất xưởng một mặt hàng "Đi-văng Săc-xô-nhia".


Sau khi kết chuyển giao dịch hàng kỳ "Đóng tài khoản 1541. 1543, 627 (1547), 642" (menu "Giao dịch" – "Đóng tháng") có lập ra các báo cáo sau về việc tính giá thành.


Nếu như khi bán hàng có chỉ ra đúng lô hàng xuất xưởng:

thì có thể nhận báo cáo bán hàng theo nhóm sản phẩm như sau:
