Mua hàng:0983715689 Diễn đàn   Đặt câu hỏi
Hỗ trợ sử dụng Tư vấn mua hàng
Call 04.5148550
Call 04.5148550
Call 04.5148550
Call 04.5148550
Call 04.5148550
Phản hồi, ý kiến góp ý của bạn với 1VS Phản hồi - góp ý
Hotline:(0988-721-127)
(04) 3514-85-50
(04) 3514-85-51
(04) 3514-84-30
Ý kiến nhận xét

Chị Trần Thị Lâm - Kế toán - Công ty cổ phần Tập đoàn Thái An

"...Lúc bắt đầu sử dụng, bên mình cũng gặp nhiều khó khăn vì chưa quen với phần mềm mới. Tuy nhiên khi đã hiểu các nguyên tắc làm việc của 1C thì mình nhận thấy đây là công cụ đắc lực cho người sử dụng trong việc việc kiểm tra, kiểm soát và đưa ra báo cáo giúp đơn giản hóa công việc của mình...".

Anh Trần Quang Thiện - Chủ Nhà sách cô Hường

"... Mình đặc biệt ưa dùng tính năng tổ chức danh mục phân cấp không giới hạn của phần mềm: hàng hóa và khách hàng được ghi nhận theo từng nhóm nhỏ. Điều này không chỉ hỗ đắc lực cho thu ngân bán hàng chính xác và nhanh chóng mà còn rất tiện dụng khi thiết lập và quản lý các chương trình khuyến mại, chiết khấu cho từng nhóm khách hàng theo một hoặc nhiều nhóm sản phẩm...".

1C:Quản lý tổng thể (ARM)


Đăng ký nhận bài viết

  1. Bạn đang dùng giải pháp 1C nào?
    1. 1C:KẾ TOÁN 8
      1181 (98.83%)
    2. 1C:Bán lẻ 8
      305 (25.52%)
    3. 1C:Quản lý thương mại
      140 (11.72%)
    4. 1C:Quản lý tổng thể (ARM)
      93 (7.78%)
    5. 1C:Quản lý văn bản (ECM)
      72 (6.03%)
    6. 1C:Hóa đơn
      67 (5.61%)
    7. 1C:Hiệu thuốc
      54 (4.52%)
    8. 1C:Cửa hàng điện máy
      52 (4.35%)
    9. 1C:Nhà hàng
      47 (3.93%)

Thông tin công nghệ, giải pháp

Kiến trúc "1C:DOANH NGHIỆP" như là một sản phẩm của tư duy công nghiệp (phần III)
19/09/2010 - Số lần đọc: 8615

Các cơ chế thông minh để lập báo cáo

Trong bất kỳ giải pháp nào đều có hai cơ chế chính để đáp ứng việc tương tác giữa người sử dụng và hệ thống, đó là: giao diện dùng để nhập thông tin và các công cụ để lập báo cáo. Bởi vì các cơ chế nhận báo cáo được dùng, trước hết, là để trình bày thông tin cần thiết cho người sử dụng để nhận lại các kết quả quản lý, cho nên trong «1C:DOANH NGHIỆP» nó được đặc biệt lưu ý.

Công nghệ lập báo cáo được áp dụng trong «1C:DOANH NGHIỆP» có chứa một loạt các giải pháp độc nhất vô nhị, không có điểm tương tự trong các sản phẩm khác. Trước hết, trong nền tảng «1C:DOANH NGHIỆP» không có các công cụ truyền thống để làm "động cơ báo cáo" riêng như đối với phần lớn các hệ thống khác. Để lập báo cáo, người lập trình được cung cấp đầy đủ các cơ chế, chúng có thể được sử dụng trong các tổ hợp khác nhau hay kết hợp với các cơ chế khác. Nhờ đó mà trong «1C:DOANH NGHIỆP», các báo cáo được hòa hợp với giao diện chung của ứng dụng. Thực tế thì trong quá trình làm việc, người sử dụng không nhìn thấy ranh giới giữa giao diện chung và cơ chế báo cáo. Theo chúng tôi, trong hệ thống ứng dụng quản lý kinh tế hiện đại không thể khác hơn: thế nhưng, thông tin phân tích có thể được sử dụng trong tất cả các chế độ và trong các hộp thoại, còn các báo cáo thì được tạo theo khối lượng lớn thông tin mà chúng sẽ không được in ra, mà để phân tích và lập ra báo cáo. Cho nên trong «1C:DOANH NGHIỆP», các công cụ dùng để chuẩn bị lập báo cáo có liên quan chặt chẽ với các cơ chế khác và có các tính năng mạnh để làm việc trực tiếp.

Một trong số các cơ chế nổi bật của loại này đã được đáp ứng bởi nền tảng, đó là bộ lập báo cáo, dùng để đảm bảo khả năng nhận lại báo cáo nhờ chức năng mở rộng với chi phí tối thiểu.

Chúng tôi muốn người lập trình hoặc người sử dụng chỉ thực hiện các mô tả ngắn gọn để đưa ra những thông tin cần phân tích, và những gì còn lại để tạo ra báo cáo thì do bộ lập báo cáo tự làm lấy.

Việc lựa chọn thông tin gốc được tiến hành trên cơ sở các mô tả đã được thực hiện nhờ ngôn ngữ truy vấn của «1C:DOANH NGHIỆP». Do được sử dụng các bảng ảo của các cơ chế kế toán, nội dung truy vấn của một báo cáo có độ phức tạp vừa phải sẽ chiếm một số dòng lệnh. Cho nên nó không cần mô tả bằng tay. Trong nhiều trường hợp truy vấn được tạo bởi các công cụ của bộ thiết kế trực quan, và thường thì toàn bộ chu trình rút ngắn được thời gian chọn nguồn dữ liệu và chỉ ra các trường kết quả. Công cụ này cho phép tạo trực quan các cơ cấu lô-gic có độ phức tạp bất kỳ, bao gồm việc liên kết các truy vấn và lồng các truy vấn, kể cả khả năng “tăng cường” nội dung truy vấn để soạn thảo (nội dung này có bất kỳ mọi nơi trong mô-đun).

Trên cơ sở phân tích nội dung truy vấn một cách có hệ thống, bộ thiết kế tự tạo ra toàn bộ cơ sở cần thiết không chỉ để tạo báo cáo mà còn cho phép người sử dụng thực hiện một số các tùy chỉnh chi tiết, kể cả để di chuyển giữa các báo cáo. Kết quả là tạo ra hộp thoại, trong đó chứa báo cáo riêng cũng như các công cụ khác nhau để điều khiển chúng, đó là chọn các trường cần đưa vào báo cáo, chọn phễu lọc thông tin theo các tiêu chí phức tạp, gom nhóm theo dòng và theo cột, thiết lập chế độ sắp xếp dữ liệu… Báo cáo có thể được phản ánh trong dạng bảng với nhiều thứ bậc các cột và các dòng, các biểu đồ, biểu đồ tổng hợp, hay các bảng tổng hợp.

Cần biết rằng, việc thiết lập trực tiếp chế độ lọc cũng đảm bảo các tính năng này, như khi thiết lập bộ lọc theo các trường bảng có liên quan (nhận "qua dấu chấm"), chỉ ra tiêu chí của bộ lọc tổ hợp các giá trị hay nhóm các đối tượng mà trong thứ bậc của chúng cần phải chọn thông tin. Ví dụ, người sử dụng có thể lập báo cáo mua hàng bằng cách chỉ đưa vào các hóa đơn chứa nội dung hàng hóa và nhà sản xuất thuộc các nhóm lệnh "Trong nước" và "Nước ngoài". Bộ dựng báo cáo cũng cho phép lưu tùy chỉnh giao diện báo cáo hiện tại để sau đó sử dụng lại.

Ngoài ra, bộ dựng báo cáo còn đưa toàn bộ thông tin cần thiết vào báo cáo đã được lập để diễn giải cho từng ô riêng biệt của báo cáo (Drill-down). Việc diễn giải các ô được thực trong chế độ trực tác, tức là lần lượt nhấp đúp chuột trực tiếp lên các ô đã được chọn của báo cáo để mở ra báo cáo chi tiết trên cơ sở dữ liệu của các ô và của thông tin chứa trong báo cáo ban đầu: 

Điểm quan trọng là người lập trình được đáp ứng tất cả các tính năng này ở dạng sẵn có và chúng có thể được sử dụng theo các tổ hợp khác nhau. Vì vậy đối với từng báo cáo cần tạo, nó có thể linh hoạt xác định "mức tự do" cần phải đảm bảo cho người lập trình, (tất cả những điều đó đều được ghi trong truy vấn). Ví dụ, có thể chỉ ra theo trường nào người sử dụng có thể thiết lập chế độ lọc, sắp xếp, gom nhóm… Chính các phần tử điều khiển báo cáo được đưa vào hộp thoại cũng là do ý của người lập trình. Vì tất cả các thành phần của cơ chế này có thể được sử dụng độc lập, nên người lập trình có thể áp dụng bộ thiết kế báo cáo không chỉ để chuẩn bị lập báo cáo mà còn để giải quyết nhiều nhiệm vụ khác. Ví dụ, người lập trình có thể tạo thủ tục thay đổi dữ liệu theo nhóm; trong chu trình đó để điều khiển việc lựa chọn dữ liệu ta cần cho khởi động tất cả các cơ chế của bộ thiết kế, nhưng sau đó lựa chọn đã thu được sẽ không được phản ánh trong trong báo cáo mà sẽ được chuyển qua bộ xử lý, ví dụ, đối với nhóm hàng hóa đã được chọn sẽ được điều chỉnh lại giá.

Kết quả quan trọng của việc sử dụng cơ chế này là trên cơ sở của nó trong các giải pháp ứng dụng của «1C:DOANH NGHIỆP» đã triển khai các công cụ mà trong đó những người sử dụng "có kinh nghiệm" có thể tự lập được những báo cáo có đủ độ phức tạp. Trên cơ sở của cơ chế này đã xây dựng được bộ các báo cáo sử dụng cho nhiều giải pháp ứng dụng và để bảo đảm cho người sử dụng khả năng thiết kế các báo cáo riêng, có nghĩa là họ có thể lập các báo cáo, thiết kế, thậm chí họ có thể tạo được hệ thống các báo cáo chi tiết có mối ràng buộc lẫn nhau.

Chúng ta cũng không thể bỏ qua hiệu quả sử dụng của các công cụ hiển thị. Trong «1C:DOANH NGHIỆP» có sử dụng văn bản dạng bảng (không kèm các công cụ tính toán) để xem và để in các báo cáo. Ý tưởng chính của giải pháp này là sử dụng mô hình bảng điện tử (Spreadsheet) để làm công cụ tạo các mẫu báo cáo mà không cần phải sử dụng nó như là một công cụ tính toán.

Khác với hầu hết các bảng tính khác, văn bản dạng bảng của «1C:DOANH NGHIỆP» có thể chứa các bảng có kích thước lớn theo chiều rộng cũng như chiều cao. Trong văn bản dạng bảng loại này có đầy đủ mọi tính năng hiển thị, cho phép một mặt là để giúp tạo các báo cáo phân tích, mặt khác là để lập ra các bản mẫu sát với các đối tượng chứa trong chúng, phù hợp với các tọa độ khu vực.

Trong nhiều trường hợp, việc điền báo cáo được thực hiện trên cơ sở khuôn mẫu báo cáo. Để làm việc đó, trong văn bản dạng bảng đã thực thi hệ thống linh hoạt tên miền và mô tả các tham số. Người lập trình thiết kế khuôn in bằng cách trực quan, để xác định hình thức bên ngoài của báo cáo bằng cách tách trong nó thành các vùng cần điền dữ liệu khác nhau và mô tả các tham số của chúng. Khi tạo báo cáo là lúc tiến hành hợp nhất các miền với dữ liệu, bằng cách kết hợp phần chứa nội dung báo cáo với hình thức bên ngoài của mẫu báo cáo đã được chọn. Cần biết rằng, khuôn báo cáo có thể được thiết kế tự động bởi bộ thiết kế báo cáo hoặc do chính người lập trình thiết lập. Được phép sử dụng các kiểu cách sẵn có để tạo báo cáo và thiết kế các báo cáo riêng.

Điều quan trọng là các thiết bị tạo các văn bản dạng bảng không chỉ để nhận lại các biểu mẫu in tĩnh. Trong thiết bị này có cơ chế mạnh để trực tiếp điều khiển gom nhóm nhiều lớp, để diễn giải các ô của báo cáo (Drill-down), tự động thiết lập chiều rộng cột… Được phép lưu báo cáo trong các định dạng khác nhau (HTML, XLS, TXT, EXCEL). Ngoài ra, để phân tích trực tiếp các thông tin nhiều chiều trong văn bản dạng bảng, có thể sử dụng bảng tổng hợp, bảng này cho phép điều khiển trực tiếp việc gom nhóm thông tin và điều khiển thành phần của dữ liệu cần được hiển thị mà không cần phải cập nhật báo cáo.

Một tính chất cực kỳ quan trọng của văn bản dạng bảng, đó là khả năng sử dụng chính nó để làm cơ chế nhập và soạn thông tin. Văn bản này có thể chứa bất kỳ các điều khiển được sử dụng trong các hộp thoại của «1C:DOANH NGHIỆP», trong chính các ô hay hình vẽ, cũng như bên trên các ô. Việc này đặc biệt có lợi trong những trường hợp khi chính hộp thoại sẽ vừa là báo cáo, vừa là công cụ để soạn thảo thông tin. Báo cáo về chỉ tiêu kế hoạch mà được phép điều chỉnh là một ví dụ.

Để trình bày trực quan thông tin phân tích, người lập trình được cung cấp đầy đủ các loại biểu đồ, kể cả biểu đồ Gantt, biểu đồ tổng hợp… Hơn nữa các phần tử điều khiển này cũng được đưa vào các hộp thoại như các điều khiển khác và cũng có thể đưa vào các văn bản dạng bảng để nhận được các báo cáo phân tích tổng hợp.

Cơ chế phân tích dữ liệu (Data mining) thông minh cũng rất độc đáo, nhờ cơ chế này, với chi phí tối thiểu, giải pháp ứng dụng có thể được trang bị thêm các công cụ phân tích, ví dụ như cây giải pháp…

Đặc tính quan trọng của nền tảng «1C:DOANH NGHIỆP» là để lập các báo cáo có mức độ phức tạp khác nhau, khi người lập trình không cần kết nối với các cơ chế bổ sung từ bên ngoài. Lúc đó tất cả các công cụ nội tại được kết nối với nhau, dựa trên một hệ thống khái niệm thống nhất và sử dụng tối đa các khả năng của nhau. Ví dụ, bảng tổng hợp được xếp trong văn bản dạng bảng để tự động xử lý truy vấn đến cơ sở dữ liệu theo mức độ sử dụng bằng trực quan để chỉ ra các lớp mới của nhóm, gọi sử dụng các chức năng của bộ thiết kế báo cáo. Dĩ nhiên trong hệ thống có cả bộ thiết kế báo cáo, nó cho phép thiết kế chúng trực tiếp, thế nhưng điều quan trọng là bộ thiết kế chỉ "tập hợp" báo cáo từ các cơ chế đang được áp dụng cả để giải nhiều bài toán khác. Thực tế cho thấy, với phương pháp lập trình này, để tạo được một báo cáo có độ phức tạp vừa phải, người lập trình không cần mất nhiều thời gian.

Xây dựng hệ thống thông tin phân tán và tích hợp

Còn có một "Át chủ" của nền tảng «1C:DOANH NGHIỆP», đó là cơ chế trao đổi dữ liệu.

Ban đầu, nguyên nhân chúng tôi "đưa ra quyết định xây dựng cơ chế trao đổi dữ liệu cho các cơ sở thông tin phân tán theo khu vực mà không đòi hỏi phải kết nối thường xuyên" là do tại phần lớn các nhà máy trong nước còn thiếu các kênh dữ liệu băng thông rộng. Thế nhưng sau đó không lâu, như chúng ta đã biết, việc tạo các cơ chế này đã hội nhập vào dòng chảy của một trong số các hướng viễn cảnh nhất của một ý tưởng công nghệ thế giới.

Ngày nay, trong tay của người lập trình giải pháp có bộ cơ chế trao đổi mạnh, có khả năng giải quyết nhiều nhiệm vụ khác nhau nhất. Bên cạnh việc hỗ trợ hệ thống thông tin phân tán theo phương pháp truyền thống dùng để tích hợp với các chương trình ứng dụng khác, còn có thể xây dựng hệ thống thông tin không đồng nhất mà có sự góp mặt của các giải pháp dựa trên nền tảng «1C:DOANH NGHIỆP» cùng với các ứng dụng ngoài.

Việc ứng dụng các công nghệ trao đổi dữ liệu để giải quyết thành công rất nhiều các bài toán đã cho thấy, kết quả thu được không phụ thuộc duy nhất vào người lập trình mà là bộ cơ chế, chúng có thể được ứng dụng riêng cũng như được kết hợp trong tổ hợp bất kỳ. Các cơ chế này hỗ trợ làm việc với các tài liệu XML, XML-Serialization, hạ tầng thông điệp, dịch vụ ghi nhận thay đổi, sơ đồ trao đổi, quản lý cơ sở thông tin phân tán:

Theo chúng tôi, tính chất của bộ các cơ chế này là độc nhất vô nhị vì nó đáp ứng được mức độ sẵn sàng làm việc cao của hệ thống trong môi trường xác định - thực tế việc tổ chức trao đổi này không đòi hỏi các chi phí bổ sung cho việc lập trình. Chỉ cần quy định trực tiếp thành phần dữ liệu cần tham gia trao đổi, còn cơ chế sẽ đảm bảo tạo các thông điệp và kết nhập chúng. Khi đó hệ thống sẽ tự động thực hiện thủ tục trao đổi chỉ đối với những thông tin cần thay đổi, theo dõi để nhận các thông điệp, xác định mức độ cần chuyển lại dữ liệu, cho phép xử lý và kiểm tra sự toàn vẹn của thông tin đã được kết nhập. Khả năng tùy ứng linh hoạt cho phép tạo ra bất kỳ sơ đồ Topo của các đầu mối trao đổi (hoa thị, bông tuyết, sơ đồ không có nút trung tâm). Thành phần dữ liệu tham gia trao đổi cũng như các quy chế xử lý số liệu có thể được quy định theo ý người lập trình. Khi đó các cơ chế trao đổi, một mặt hạn chế được tối đa khối lượng thông tin cần chuyển (chỉ chuyển những dữ liệu thay đổi), mặt khác là để đảm bảo không để mất các thông điệp. Nói cách khác, hệ thống có khả năng hoạt động trong điều kiện được cung cấp đầy đủ các thông điệp, cũng như khi không có.

Sự tồn tại trong nền tảng các cơ chế trao đổi hiệu quả nhưng không đòi hỏi các tùy ứng phức tạp là rất cần thiết, trước hết, là để đáp ứng cấu trúc chung trong việc xây dựng các giải pháp ứng dụng đã được triển khai trong nền tảng của «1C:DOANH NGHIỆP. Chúng ta cũng đã nói, việc chuyển sang hệ thống phân tán và hệ thống tích hợp được đảm bảo bằng kỹ thuật đối tượng quản lý dữ liệu đang được sử dụng trong «1C:DOANH NGHIỆP». Hệ thống của các đối tượng tương ứng đảm bảo các khả năng lưu bình thường (persistence) bất kỳ mọi dữ liệu ứng dụng theo định dạng XML. Ngoài ra, nhờ sự tồn tại của các nguyên mẫu chuẩn của các đối tượng ứng dụng mà nền tảng có khả năng tự quy định cho từng đối tượng những thông tin thay đổi cần chuyển, và chiến thuật trao đổi phù hợp với các chức năng của nó. Vấn đề quan trọng của nhiều hệ thống nổi tiếng được dùng để trao đổi và tiếp nhận là: trong cơ sở ngữ cảnh mô tả dữ liệu không được đưa vào các thông tin để chỉ mục tin nào cần phải trao đổi, các quy định xử lý thông tin, và làm thế nào để bảo đảm được toàn vẹn lô-gíc và sự đồng nhất của dữ liệu. Vì vậy người lập trình khi sử dụng các cơ chế tương tự thường phải mô tả chi tiết các chu trình cho từng mảng thông tin.

Các cơ chế trao đổi của «1C:DOANH NGHIỆP» hoạt động ở mức các nguyên mẫu chuẩn của các đối tượng ứng dụng, vì vậy nên ngay từ đầu chúng có tất cả các thông tin cần thiết của loại này. Người lập trình chỉ cần chỉ ra những đối tượng của dạng xác định cần tham gia trao đổi. Tiếp đến, tất cả các thao tác như ghi nhận các thay đổi, tạo các thông báo, kết nhập dữ liệu và giải quyết các vướng mắc sẽ được chương trình thực hiện tự đông. Người lập trình dĩ nhiên có khả năng thực hiện bằng tay "tùy chỉnh tinh vi", (nhưng các tùy chỉnh loại này chỉ được yêu cầu trong một số trường hợp riêng).

Một đặc tính quan trọng khác của cơ chế trao đổi của «1C:DOANH NGHIỆP» là nó phù hợp với các quan niệm tiên tiến toàn cầu về tích hợp hệ thống thông tin. Chúng ta đều hiểu rõ, ngày nay không một người lập trình phần mềm quản lý kinh tế nào lại có thể tự xem mình là "Hoàng đế của đỉnh cao", và tự tách mình ra khỏi mối tương tác chặt chẽ với các hệ thống của những đồng nghiệp khác. Trong giao tiếp này thì các tương tác không chỉ đơn thuần là để biết gọi sử dụng một chức năng nào đó từ các chương trình khác, hay để kết nhập vào nó một số dữ liệu nào đó. Vấn đề ở đây là việc xây dựng các hệ thống khác loại, trong các hệ thống này đã được đưa vào một số các giải pháp ứng dụng khác nhau để tạo nên một quần thể hiện hữu. Trong tương lai, xu hướng này sẽ trở thành một trong số các hệ thống phần mềm quản lý kinh tế chiếm ưu thế trên thị trường thế giới. Các cơ chế trao đổi của «1C:DOANH NGHIỆP» có độ sẵn sàng cao để làm việc trong các hệ thống không đồng nhất hôm nay và cả sau này, không chỉ do vì toàn bộ việc trao đổi được tiến hành trong định dạng XML, mà điều quan trọng hơn là nó phù hợp được ý tưởng của các giải pháp đã được triển khai theo khuynh hướng hiện tại. Các cơ chế trao đổi của «1C:DOANH NGHIỆP» cũng cho phép thực hiện tương tác không chỉ với các ứng dụng riêng lẻ mà còn với các nền tảng tích hợp đầy triển vọng khác.

Cài đặt và cập nhật các giải pháp ứng dụng

Thực tế thì tất cả mọi nhà sản xuất chương trình ứng dụng đều đã đưa vào trong sản phẩm của mình các cơ chế để cập nhật phiên bản mới. Thế nhưng đối với các hệ thống như «1C:DOANH NGHIỆP», những vấn đề tương tự lại có tính chất phức tạp riêng. Điều đó có thể hiểu, thứ nhất là do các hệ thống quản lý được cập nhật thường xuyên hơn so với các hệ thống khác, thứ hai là do các thay đổi của giải pháp ứng dụng của «1C:DOANH NGHIỆP» thường được thực hiện "tại chỗ" để tùy ứng sản phẩm đóng gói sao cho thích hợp với các nhu cầu cụ thể của khách hàng. Đặc tính thứ hai có tính chất phức tạp riêng, bởi vì mỗi khi người lập trình tung ra thị trường bất kỳ một sản phẩm nâng cấp nào đó thì đều nảy sinh yêu cầu mà họ (những người lập trình) phải tiến hành đồng bộ hóa tất cả các thay đổi đã đưa vào để phù hợp điều kiện cụ thể của doanh nghiệp.

Để giải quyết các vấn đề vừa nêu và những nhiệm vụ khác có liên quan với việc cài đặt và cập nhật các giải pháp ứng dụng, trong «1C:DOANH NGHIỆP» đã triển khai hoàn chỉnh bộ cơ chế để trợ giúp người lập trình và người sử dụng. Cơ chế này bao quát toàn bộ quá trình công nghệ cài đặt và hỗ trợ: chuẩn bị các tệp đóng gói, chuẩn bị các bản cập nhật bổ sung và các bộ cài đặt trọn gói, đưa các phiên bản cập nhật lên mạng, tìm kiếm tự động và thực hiện cập nhật, điều khiển thành phần hỗ trợ ở mức các đối tượng cấu hình…:

Một trong số các yếu tố quan trọng hơn của công nghệ cập nhật là cơ chế đảm bảo việc đồng bộ hóa các thay đổi do nhà cung ứng giải pháp ứng dụng đã đưa vào để phù hợp với yêu cầu của một doanh nghiệp cụ thể. Cơ chế này đảm bảo các chức năng mạnh để phân tích và so sánh các thay đổi, kể cả việc đảm bảo các công cụ điều khiển đồng bộ hóa. Nhà quản lý hoặc người lập trình có thể thực hiện chi tiết việc đồng bộ hóa các cập nhật đến từng đối tượng, từng thuộc tính và từng thủ tục của các mô-đun. Ví dụ, nếu một chuyên gia chịu trách nhiệm bảo trì giải pháp ứng dụng cho doanh nghiệp thì họ sẽ đánh dấu những đối tượng được dự định hỗ trợ riêng biệt, các đối tượng này sau đó sẽ không được cập nhật thay đổi khi nhà cung cấp sản phẩm đưa ra phiên bản nâng cấp mới. Nếu các đối tượng cần được hợp nhất thì để tạo đơn giản việc đồng bộ hóa các thay đổi, ta có thể xây dựng thứ tự ưu tiên của việc hợp nhất.

Cơ chế cập nhật cho phép xây dựng hệ thống bảo trì phức tạp nhiều lớp. Nhà cung cấp sản phẩm chuyên dụng có thể dựa vào người tạo ứng dụng tổng hợp để thực hiện công việc hỗ trợ cho khách hàng, đáp ứng riêng biệt cho từng khách hàng. Người sử dụng lúc đó sẽ khai thác giải pháp ứng dụng, còn việc bảo hành/bảo trì các phần riềng của giải pháp sẽ được thực hiện bởi các công ty khác nhau.

Do cơ chế cập nhật phần nhiều là được dựa trên việc mô tả toàn bộ giải pháp ứng dụng bằng Metadata, còn lô-gíc nghiệp vụ của ứng dụng được xây dựng trên cơ sở các nguyên mẫu chuẩn của các đối tượng ứng dụng, cho nên hệ thống có khả năng hỗ trợ chiến lược cập nhật có tính đến đặc thù cấu trúc của giải pháp ứng dụng, có khả năng kiểm tra sự toàn vẹn lô-gíc và đáp ứng đầy đủ cho người sử dụng thông tin cần thiết về các thay đổi ở mức độ trực quan.

Và hơn nữa…

Toàn bộ giao diện của giải pháp ứng dụng có thể được hiển thị theo nhiều ngôn ngữ. Mỗi người sử dụng có thể làm việc với một trong số các ngôn ngữ đã được thiết lập trong đó. Khi đó, không cần phải tách các xâu ký tự nội dung vào các tệp riêng biệt. Các phần tử giao diện theo nhiều ngôn ngữ được soạn thảo "tại chỗ" như: trong hộp thoại, khuôn in chứng từ, menu… Trong mọi thời điểm, người lập trình có thể mở lên và soạn giao diện của các hộp thoại theo ngôn ngữ khác. Cũng được phép soạn lần lượt các nhãn cụ thể trên các ngôn ngữ đã được cài đặt trong giao diện. Nếu cần phải mở rộng cơ sở ngôn ngữ, ta có thể nhóm tất cả các phần tử nội dung vào một danh sách chung để cho việc chuyển các nhãn cùng loại được thể hiện ngay trong tất cả các cấu phần của giao diện. Chiến lược chung của việc quốc tế hóa còn bao gồm việc chuyển giao diện hệ thống, lưu các xâu ký tự theo định dạng UNICODE, định dạng ngày và số phù hợp với các đặc tính của từng quốc gia và ngôn ngữ khác nhau, xây dựng các trình tự sắp xếp dữ liệu có tính đến các tiêu chuẩn quốc gia…

Việc thực hiện các thuật toán lô-gíc nghiệp vụ có thể được người lập trình chuyển lên Server «1C:DOANH NGHIỆP» nếu thấy cần thiết. Điều này cho phép người lập trình quản lý việc phân tải giữa Client và Server. Khi đó không đòi hỏi người lập trình phải có kỹ năng xây dựng cấu trúc ba tầng, hay kiến thức về nghiệp vụ mạng… Hệ thống có hội tụ đủ mọi chi tiết công nghệ và bảo đảm việc sử dụng hợp lý các tài nguyên Server nhờ sự hỗ trợ của mô hình Staterless, bộ nhớ đệm trung gian (Cach) và phân chia tài nguyên hệ thống…

Trong hệ thống bảo vệ quyền truy cập của «1C:DOANH NGHIỆP» có thực thi khả năng thiết lập các hạn chế ở mức độ bản ghi, và cả các trường của bảng. Điều đó cho phép, ví dụ, để bảo đảm cho người sử dụng có quyền chỉ truy cập đến tên của người lao động trong giới hạn bộ phận của mình, còn các dữ liệu về lương hay tình trạng gia đình - chỉ dành cho các cán bộ phụ trách trực tiếp. Việc thiết lập các hạn chế chỉ yêu cầu đưa ra điều kiện hình thức, sau đó hệ thống sẽ tự kiểm tra mọi hoạt động của người sử dụng, người lập trình không cần quan tâm đến các hạn chế này một cách rõ ràng khi thực thi các chế độ giao diện khác nhau và các thuật toán lô-gíc nghiệp vụ.

Có bảo đảm hai chế độ kiểm tra quyền truy cập. Tùy thuộc vào bài toán cần giải quyết, hệ thống kiểm tra quyền truy cập có thể dừng truy cập dữ liệu của người sử dụng hoặc đơn giản là ngắt bỏ các bản ghi đã được chọn, sau khi đã đảm bảo cung cấp đủ cho người sử dụng thông tin cần thiết mà họ được phép truy cập.

Một trong số các công cụ mạnh của người lập trình trong hệ thống «1C:DOANH NGHIỆP» là cơ chế so sánh và hợp nhất các giải pháp ứng dụng. Chúng ta cũng đã nhắc đến nó khi nói về các khả năng hỗ trợ, thế nhưng cơ chế này cùng có thể được sử dụng hiệu quả cả trong quá trình lập trình. Công cụ này có thể được sử dụng để phân tích các khác biệt cũng như để chuyển một phần các chức năng từ một ứng dụng này vào một ứng dụng khác. Nó bảo đảm thuận tiện trình bày bằng trực quan các khác biệt giữa các giải pháp ứng dụng, và có các khả năng linh hoạt để thiết lập việc so sánh lô-gíc. Khi so sánh các cấu hình cùng họ, cơ chế này sẽ tự động tiến hành so sánh, thậm chí so sánh cả các đối tượng đã bị đổi tên (bằng cách sử dụng cơ chế đồng nhất (ID) của Metadata). Ta có thể thiết lập bằng tay tính tương ứng của các đối tượng được đem so sánh mà không phụ thuộc vào tên của chúng có trùng nhau hay không, sau đó nó sẽ được chú ý đến ở tất cả các tham chiếu lên các đối tượng có trong các đối tượng khác của giải pháp ứng dụng. Ngoài ra, cơ chế so sánh còn chứa các công cụ để hiển thị trực quan các khác biệt của các hộp thoại giao diện cũng như các khuôn in chứng từ. Nhờ sử dụng cấu trúc Metadata và các công cụ so sánh trực quan các đối tượng giao diện, nền tảng «1C:DOANH NGHIỆP» đã giải quyết thành công nhiều nhiệm vụ hơn so với trong các hệ thống khác, nơi mà các cơ chế so sánh chỉ dựa trên kết quả so sánh của các tệp nguồn chương trình.

Trong «1C:DOANH NGHIỆP» có hỗ trợ việc lập biên bản ghi nhận thao tác của người sử dụng trong sổ nhật ký riêng. Hệ thống có nhiều mức ghi nhận, chúng có thể hoạt động tự động mà không cần đòi hỏi thêm công sức của người lập trình. Trước hết, dĩ nhiên, cần ghi nhận việc bắt đầu và kết thúc phiên làm việc của người sử dụng, các thao tác quản trị cơ sở thông tin, cũng như các lỗi. Do tất cả các thay đổi trong cơ sở dữ liệu được thực hiện chỉ trong kỹ thuật đối tượng (thông qua các đối tượng đáp ứng chức năng điều khiển dữ liệu), hệ thống có thể tự động ghi nhận lại trong nhật ký và sẽ được thực hiện không phụ thuộc vào việc chúng đã được thực hiện hay chưa (thực hiện trực tiếp hay sử dụng lệnh). Người lập trình cũng có thể đưa vào nhật ký một số nội dung khác bất kỳ mà vì một lý do nào đó hệ thống đã chưa đưa vào, ví dụ, thông tin về việc gửi Fax hay về lập báo cáo. Cần lưu ý rằng, nhật ký sự kiện được thực thi như là một cơ chế hệ thống riêng biệt. Cơ chế này không sử dụng cơ sở dữ liệu của «1C:DOANH NGHIỆP» để lưu thông tin, cho nên nó không tạo thêm phụ tải lên hệ thống và không làm ảnh hưởng đến công việc của người sử dụng.

Tổng kết

Trong bài viết này, chúng tôi đã thử nêu ra một số vấn đề công nghệ mới đang được quan tâm trong nền tảng «1C:DOANH NGHIỆP». Chúng tôi cũng đã cố gắng chỉ ra rằng: tất cả các giải pháp được thực thi trong «1C:DOANH NGHIỆP» đều được dựa trên một mô hình và một cấu trúc thống nhất.

Điều quan trọng là tất cả các cơ chế của nền tảng, ở các mức độ khác nhau, đều sử dụng các tính năng của các cơ chế khác. Ví dụ, hầu như tất cả đều dựa trên cấu trúc Metadata và hệ thống nguyên mẫu của các đối tượng ứng dụng. Như vậy, mặc dù mỗi một tính năng của «1C:DOANH NGHIỆP» đều rất có giá trị và ý nghĩa rất lớn, nhưng điều đáng quan tâm hơn cả chính là việc xem xét chúng một cách tổng thể trong một mô hình hoàn chỉnh.

Một lần nữa, chúng tôi xin tóm lược tổng thể một số các nguyên tắc chung có trong mô hình «1C:DOANH NGHIỆP»:

Cấu trúc của nền tảng cùng với các phương tiện công cụ là để sao cho người lập trình giải pháp ứng dụng có thể trừu tượng hóa tối đa, tách rời khỏi các vấn đề công nghệ mức thấp và tập trung giải quyết các nhiệm vụ trong lĩnh vực ứng dụng của mình.

Toàn bộ quá trình xây dựng giải pháp, bắt đầu từ việc xác định cấu trúc dữ liệu cho đến việc thiết kế các phần tử giao diện và kết nối các công cụ tích hợp đều được thực hiện trong cùng một hệ thống các khái niệm, và như vậy, cho phép tăng nhanh tốc độ đào tạo đội ngũ chuyên gia và nâng cao hiệu suất lao động.

Nền tảng có sẵn lời giải cho hầu hết các vấn đề nảy sinh khi lập trình giải pháp ứng dụng, từ khi thiết lập cách phản ánh các dữ liệu của lĩnh vực ứng dụng vào cơ sở thông tin, cho đến việc quy trình cài đặt, hỗ trợ và quản trị hệ thống. Như vậy, người lập trình không cần phải nghiên cứu các công nghệ khác nhau và giải quyết vấn đề tương thích khi sử dụng.

Việc có một mô hình thống nhất và xuyên suốt ở mức cao cùng với các công nghệ thực thi trong đó cho phép, theo chúng tôi, giảm được đáng kể (hàng chục lần) các chi phí tạo dựng và hỗ trợ các giải pháp ứng dụng.

Bắt đầu từ 1996, khi bắt đầu công việc theo hướng này, thậm chí, ngay cả sau khi cho ra đời phiên bản đầu tiên của nền tảng, chúng tôi cũng chưa hoàn toàn tin tưởng vào con đường mà mình đã chọn. Trong khoảng thời gian qua, mô hình ý tưởng của hệ thống đã được phát triển thành công, và ngày nay nó đã được minh chứng bằng nền tảng «1C:DOANH NGHIỆP 8.0». Nói một cách nghiêm túc, trên thế giới hiện nay cũng không có nhiều các công nghệ chuyên dụng định hướng đến việc xây dựng nhanh giải pháp ứng dụng. Tuy nhiên, càng ngày có thể thấy rõ rằng, con đường mà chúng tôi chọn được dựa trên định hướng hướng chiến lược của việc phát triển phần mếm quản lý kinh tế.

Theo đánh giá của nhiều chuyên gia mà chúng tôi đã tiếp xúc, tại Nga và các nước thuộc Liên Xô cũ đã hình thành toàn diện một nền công nghiệp phát triển và hỗ trợ các giải pháp ứng dụng dựa trên nền tảng công nghệ chuyên dụng; và theo cách nhìn tổng thể thì tình hình ở đây quả thực là độc đáo. Theo khảo sát của chúng tôi, hiện chưa có một nền tảng chuyên dụng tương tự mà trên đó rất nhiều các công ty khác nhau tạo ra một số lượng lớn các sản phẩm ứng dụng đại trà, đáp ứng được nhu cầu cho một khu vực rộng lớn. Cho nên, đối với nhiều chuyên gia, cách tiếp cận và giải pháp của chúng tôi luôn được quan tâm đặc biệt, bởi vì hiệu quả của việc triển khai đã được đánh giá rất cao trên thực tế.

Dĩ nhiên, tất cả những hình dung trên (bao gồm cả việc phân tích các xu thế hiện đại) chỉ là quan điểm và kết quả nghiên cứu của chúng tôi. Chúng tôi không hề kỳ vọng đạt đến một chân lý tuyệt đối, mà có lẽ, không hề tồn tại trong các vấn đề được nêu ra. Có thể, có rất nhiều bạn đọc có cách nhìn nhận vấn đề khác với chúng tôi. Chúng tôi sẽ luôn chân thành cảm ơn về các nhận xét góp ý (kể cả những phê phán gay gắt) cho bài viết này.

Xem lại Phần I và Phần II
Dịch từ nguyên bản tiếng Nga: Trần Quang Huy, Trần Thân, Ngô Đình Hoàn, Trần Thắng.

Công ty cổ phần Hệ thống 1-V (1VS JSC).

Phòng 1508, tòa nhà Thành Công, 25 Láng Hạ, Ba Đình, Hà Nội

www.1vs.vn        1vs@1vs.vn



Tin tức khác


Báo chí viết về 1VS
25/12/2015
Giải đáp vướng mắc trong lập Báo cáo tài chính năm 2015:

"Nội dung chính của sự kiện là tập trung hướng dẫn rà soát từng tài khoản trước khi lập báo cáo tài chính, chỉ ra những điểm cần lưu ý, hay sai sót, và những rủi ro về thuế khi lập báo cáo tài chính năm 2015. Trong đó, có nêu rõ những khác biệt giữa các đơn vị thực hiện theo quyết định 48 và thông tư 200".

10/08/2015
Ứng dụng dịch vụ đám mây cho các giải pháp kế toán và quản lý 1C - Đài Truyền hình Kỹ thuật số VTC (VTC1):
Điện toán đám mây là xu thế tất yếu của nền công nghệ hiện đại. Với việc đưa lên mây nhiều giải pháp như kế toán, bán hàng, quản lý tổng thể doanh nghiệp... dịch vụ đám mây của 1C được nhiều doanh nghiệp ứng dụng để tự động hóa công tác quản lý trong nhiều lĩnh vực. 
01/06/2015
Phần mềm kế toán 1C: Một dữ liệu cho hàng trăm khách hàng - Báo Tài chính điện tử:
"... Thứ nhất, đám mây 1C của chúng tôi sử dụng cơ chế chia tách dữ liệu Multitenancy. Với cơ chế này, 1VS chỉ cần quản lý 1 dữ liệu phần mềm duy nhất dùng chung cho hàng trăm, hàng nghìn khách hàng của mình. Trong đó, có chia tách thành các vùng dữ liệu riêng của mỗi khách hàng, đảm bảo tính riêng tư của từng vùng dữ liệu. Nhờ công nghệ này, chúng tôi giảm được tới mức tối thiểu về thời gian, công sức và chi phí cho việc bảo trì sản phẩm trong đám mây.".