Mua hàng:0983715689 Diễn đàn   Đặt câu hỏi
Hỗ trợ sử dụng Tư vấn mua hàng
Call 04.5148550
Call 04.5148550
Call 04.5148550
Call 04.5148550
Call 04.5148550
Phản hồi, ý kiến góp ý của bạn với 1VS Phản hồi - góp ý
Hotline:(0988-721-127)
(04) 3514-85-50
(04) 3514-85-51
(04) 3514-84-30
Ý kiến nhận xét

Chị Trần Thị Lâm - Kế toán - Công ty cổ phần Tập đoàn Thái An

"...Lúc bắt đầu sử dụng, bên mình cũng gặp nhiều khó khăn vì chưa quen với phần mềm mới. Tuy nhiên khi đã hiểu các nguyên tắc làm việc của 1C thì mình nhận thấy đây là công cụ đắc lực cho người sử dụng trong việc việc kiểm tra, kiểm soát và đưa ra báo cáo giúp đơn giản hóa công việc của mình...".

Anh Trần Quang Thiện - Chủ Nhà sách cô Hường

"... Mình đặc biệt ưa dùng tính năng tổ chức danh mục phân cấp không giới hạn của phần mềm: hàng hóa và khách hàng được ghi nhận theo từng nhóm nhỏ. Điều này không chỉ hỗ đắc lực cho thu ngân bán hàng chính xác và nhanh chóng mà còn rất tiện dụng khi thiết lập và quản lý các chương trình khuyến mại, chiết khấu cho từng nhóm khách hàng theo một hoặc nhiều nhóm sản phẩm...".

1C:Quản lý tổng thể (ARM)


Đăng ký nhận bài viết

  1. Bạn đang dùng giải pháp 1C nào?
    1. 1C:KẾ TOÁN 8
      1181 (98.83%)
    2. 1C:Bán lẻ 8
      305 (25.52%)
    3. 1C:Quản lý thương mại
      140 (11.72%)
    4. 1C:Quản lý tổng thể (ARM)
      93 (7.78%)
    5. 1C:Quản lý văn bản (ECM)
      72 (6.03%)
    6. 1C:Hóa đơn
      67 (5.61%)
    7. 1C:Hiệu thuốc
      54 (4.52%)
    8. 1C:Cửa hàng điện máy
      52 (4.35%)
    9. 1C:Nhà hàng
      47 (3.93%)

Thông tin công nghệ, giải pháp

RFID: Nhãn số 1
11/01/2010 - Số lần đọc: 16136

Hệ thống giải pháp 1C cho phép tích hợp với các thiết bị phần cứng khác nhau, trong đó có RFID. Tại Việt Nam, công nghệ RFID vẫn còn chưa được ứng dụng rộng rãi, và các phần mềm ứng dụng chưa khai thác được hết các lợi thế của công nghệ này. Tuy nhiên, người sử dụng phần mềm 1C có thể khai thác các ưu điểm của các thiết bị RFID trong giải pháp "1C:Bán lẻ 8". Chúng ta cùng xem qua về công nghệ mới này trong bài viết dưới đây.

RFID (Radio Frequency IDentification, nhận dạng vô tuyến) là phương pháp lưu trữ và nhận thông tin bằng thiết bị từ xa, được gọi là nhãn RFID. Nhãn RFID có kích thước nhỏ, có thể gắn trên sản phẩm, người, động vật. Nhãn RFID có ăng-ten, cho phép nhận và gửi tín hiệu nhận dạng bằng sóng vô tuyến theo yêu cầu từ một RFID phát đáp. Các nhãn thụ động không đòi hỏi phải có nguồn điện trong như những nhãn chủ động.

Lịch sử RFID

Có thể cho rằng, thiết bị đầu tiên được biết tới là một công cụ tình báo và được sáng chế bởi Lev Teremin cho chính phủ Liên xô cũ vào năm 1945. Đây là một thiết bị nghe trộm chứ không phải là nhãn nhận dạng. Công nghệ RFID được bắt đầu áp dụng từ những năm đầu thập niên 20 của thế kỷ trước (theo một nguồn thông tin khác, hệ thống RFID chỉ xuất hiện vào cuối những năm 60). Một công nghệ tương tự đó là bộ tách sóng IFF, được sáng chế bởi người Anh vào năm 1939 và được quân đồng minh sử dụng trong thế chiến thứ II để nhận dạng máy bay ta và địch. Công trình sớm nhất về việc nghiên cứu RFID là tập tài liệu nổi tiếng của Harry Stockman, được mang tên "Communication by Means of Reflected Power" ("Phương tiện liên lạc dựa trên năng lượng phản hồi") (tháng 10 năm 1948). Tuy nhiên, cần phải có thêm 13 năm nữa thì mới có sự tiến bộ đáng kể trong nhiều lĩnh vực, trước khi công nghệ RFID trở thành hiện thực.

Các loại nhãn RFID

Như đã đề cập, nhãn RFID có thể được phân thành các dạng: thụ động và chủ động.

Nhãn RFID thụ động không có nguồn điện trong. Dòng điện được thu từ các tín hiệu vô tuyến, nó đảm bảo đủ năng lượng để truyền đi một phản hồi. Tín hiệu phản hồi của một nhãn RFID thụ động (tín hiệu năng lượng hạn chế) có dạng giản lược - thường là một mã số đơn trị (GUID). Do không có bộ nguồn cung cấp nên nhãn có kích thước khá nhỏ: đó là các sản phẩm thương mại có thể được gắn dưới da. Vào năm 2005, nhãn thương mại nhỏ nhất chỉ có kích thước 0,4x0,4mm, mỏng hơn tờ giấy, một thiết bị có thể không nhìn thấy được. Các nhãn thụ động có khoảng cách đọc thực tế trong phạm vi từ 10mm cho đến 6m.

Khác với các nhãn thụ động, nhãn RFID chủ động có nguồn cấp bên trong, và có thể có tầm hoạt động rộng hơn và bộ nhớ nhiều hơn, do đó có khả năng lưu trữ thông tin từ các bộ phát đáp. Hiện nay nhãn chủ động nhỏ nhất có kích thước tương đương một đồng xu. Rất nhiều nhãn chủ động có tầm hoạt động hàng chục mét và thời gian pin lên tới 10 năm.

Vì các nhãn thụ động rẻ hơn đối với việc sản xuất và không có pin, nên phần lớn các nhãn RFID là nhãn thụ động với nhiều dạng khác nhau. Năm 2004, các nhãn này có giá từ 40 cent. Tạm thời thì tương đối đắt đối với việc ứng dụng đại trà, tuy nhiên với số lượng sản xuất lớn (10.000 tỷ đơn vị/năm), giá của một nhãn có thể giảm xuống đến 5 cent. Cho đến nay, đây là dự báo lạc quan nhất, các nhà phân tích của Gartner và Forrester Research đồng ý rằng các nhãn có thể giảm giá xuống đến 10 cent (với số lượng sản xuất 1.000 tỷ /năm), điều này có thể đạt được sau 6-8 năm, các nhà phân tích khác cho rằng, mức giá như vậy có thể đạt được sau 10-15 năm.

Bên cạnh các lợi thế rất lớn về giá của nhãn thụ động so với nhãn chủ động, cần xét các yếu tố khác, bao gồm tính chính xác và ổn định khi làm việc ở một số môi trường nhất định, chẳng hạn như nước và kim loại. Những yếu tố này đã làm cho việc sử dụng nhãn chủ động trở nên phổ biến.

Có 4 loại nhãn thường được sử dụng. Chúng được phân loại dựa trên tần số sóng vô tuyến: nhãn hạ tần (125 hoặc 134,2 kHz), nhãn cao tần (13,56 MHz), nhãn siêu cao tần (UHF 868-956 MHz), nhãn vi sóng (2,45 GHz). Thẻ UHF không được sử dụng phổ biến vì không có những qui tắc chung cho việc sử dụng.

Ngoài ra còn có một số thiết bị phát đáp, thẻ chip không tiếp xúc với những chức năng tương tự.

Hệ thống RFID

Một hệ thống RFID có thể bao gồm một số cấu phần: thẻ, bộ đọc thẻ, máy chủ, phần mềm trung gian (Middleware) và phần mềm ứng dụng (Application software).

Mục đích của một hệ thống RFID là cho phép dữ liệu được truyền bởi một thiết bị di động, được gọi là tem. Thông tin được bộ đọc xử lý theo yêu cầu của ứng dụng cụ thể. Dữ liệu truyền qua tem có thể cung cấp thông tin nhận dạng hoặc thông tin định vị hoặc những chi tiết về sản phẩm được dán nhãn như giá, màu sắc, ngày mua... Việc sử dụng RFID trong theo dõi và trong ứng dụng truy nhập lần đầu tiên xuất hiện vào những năm 1980. RFID nhanh chóng thu hút sự chú ý bởi vì khả năng theo dõi các đối tượng chuyển động. Khi công nghệ được hoàn thiện, ngày càng đã có nhiều ứng dụng sử dụng nhãn RFID.

Trong một hệ thống RFID điển hình, các đối tượng riêng biệt được trang bị một tem nhỏ có giá rẻ. Tem này chứa một bộ phát đáp với một chip nhớ để tạo ra một mã điện tử đơn trị. Bộ tích hợp, ăng-ten được kết hợp với bộ phát đáp và bộ giải mã, phát ra tín hiệu kích hoạt nhãn RFID và nhờ đó có thể đọc và ghi dữ liệu. Khi một nhãn RFID đi vào vùng sóng điện từ, nó sẽ phát hiện tín hiệu kích hoạt từ thiết bị đọc. Thiết bị đọc giải mã dữ liệu được mã hóa trong chip và được đưa vào một máy chủ để xử lý dữ liệu.

Cùng lấy ví dụ về 1 quyển sách trong thư viện. Các cổng an ninh có thể phát hiện ra xem quyển sách đã qua hay chưa các thủ tục mượn sách. Khi người sử dụng mang trở lại, một phần của công việc bảo mật được khởi động lại và bản ghi trong hệ thống thư viện sẽ tự động cập nhật. Trong một số giải pháp RFID, một biên lai nhận lại sẽ được tạo ra, và cuốn sách tự nó có thể được lưu trữ trong các khay của thiết bị nhận trả lại.

Tình hình sử dụng

Ví dụ tại Mỹ, trong nhãn 13,56 MHz có lưu trữ đơn thuốc dành cho cựu chiến binh kém thị lực. Thuốc của ban quản lý cựu chiến binh được cung ứng bằng các nhãn chủ động. Các thiết bị này có lưu các thông tin như: tên thuốc, hướng dẫn sử dụng, tránh chỉ định… Nhãn RFID hạ tần thường được sử dụng để nhận dạng động vật. Vật nuôi có thể được cấy ghép một chip nhỏ, nó cho phép chúng nhanh chóng trở về với chủ trong trường hợp bị lạc. Thậm chí, thùng bia cũng được theo dõi với sự giúp đỡ của nhãn RFID hạ tần. Ở Mỹ có 2 loại nhãn được sử dụng: 125 kHz (chuẩn ban đầu) và kHz 134,2 (chuẩn quốc tế).

Các nhãn RFID cao tần được sử dụng trong các thư viện và cửa hàng sách, theo dõi vệ tinh, thực hiện kiểm soát truy nhập, theo dõi vận chuyển hàng không, theo dõi các vật thể cháy nổ. Nhãn cao tần được sử dụng rộng rãi trong việc nhận dạng phù hiệu, có vị trí đặc biệt trong các thẻ với rãnh từ. Các phù hiệu này dùng để xác nhận tính nguyên bản của vật thể mà không cần đặt vào thiết bị đọc, mà chỉ cần cho đi qua đầu đọc. Thẻ tín dụng American Express Blue bao gồm một nhãn RFID cao tần dành cho chức năng EpressPay.

Nhãn RFID cao tần (UHF) thường được sử dụng trong việc theo dõi vệ tinh và Container, cũng như việc giám sát xe tải và các toa xe trong vận tải hàng hóa.

Người ta thường cho rằng, nhãn RFID thay thế cho mã vạch. Nhưng có khả năng là nó sẽ không bao giờ thay thế hoàn toàn cho mã vạch, một phần vì chi phí của nó cao hơn. Đối với một số mặt hàng giá rẻ nhất định, nhãn giá trị đắt khó có thể thể chấp nhận được, cho dù nó có rất nhiều lợi thế (thử tưởng tượng về việc kiểm kê hàng hóa trong kho cửa hàng). Ngoài ra, cũng cần lưu ý rằng, việc lưu trữ dữ liệu về từng loại hàng riêng biệt có thể được thực hiện ở một nơi khác, và như vậy, tình huống thường gặp là theo dõi theo từng lô hàng, theo khay đựng hàng hoặc theo từng đơn vị mặt hàng đắt tiền.

Nhãn vi sóng RFID được sử dụng cho việc kiểm soát truy cập đối với các phương tiện vận tải. Ví dụ, các nhãn RFID được sử dụng vào công việc thu thuế điện tử ở các trạm thu liên tỉnh và quốc tế. Các nhãn được đọc từ xa, khi mà ô tô đang đi ngang qua quầy kiểm soát, và thông tin của nhãn được sử dụng để ghi giảm tiền nộp thuế từ tài khoản sẵn có. Hệ thống này giúp đẩy nhanh tốc độ lưu thông luồng xe khi qua các trạm thu thuế. Các cảm biến, như bộ ghi nhận địa chấn, có thể được đọc bằng cách sử dụng bộ phát đáp RFID, nó cho phép thu thập các thông tin từ xa rất hữu hiệu.

Tháng 1/2003, công ty Michelin bắt đầu thử nghiệm với bộ RFID phát đáp đặt trong các lốp xe. Hiện nay nhà sản xuất đã cung cấp các lốp xe với nhãn RFID. Bắt đầu từ năm 2004, tùy chọn Smart Key được áp dụng cho Toyota Prius và một số mẫu xe Lexus. Trong đó, khóa xe có sử dụng sơ đồ RFID chủ động, cho phép xe ô tô xác nhận sự hiện diện khóa trong bán kinh 3 foot từ bộ cảm biến. Lái xe có thể mở cửa và khởi động xe khi mà khóa vẫn còn ở trong ví hay trong túi.

Cấy ghép cho người

Các chíp RFID cấy vào mô được thiết kế để quản lý động vật hiện đang được sử dụng cho người. Một thí nghiệm ban đầu với các mô cấy RFID được thực hiện bởi giáo sư người Anh Kevin Warwick, ông đã thực hiện cấy mô một con chíp vào cánh tay của mình năm 1988. Nhờ việc sử dụng các giải pháp số, Kevin đã giải quyết được vấn đề cấp quyền vào nhà, truy cập máy tính, lưu trữ hồ sơ y tế, các công việc với các ứng dụng khác nhau khi thực thi pháp luật. Tại Baja Beach Club ở Barcelona, người ta sử dụng một con chíp cấy mô để nhận dạng khách hàng VIP, và những vị khách này sử dụng chíp đó để thanh toán tiền. Trong năm 2004, đơn vị cảnh sát Mexico đã cấy chíp vào 170 nhân viên của mình để giám sát truy nhập cơ sở dữ liệu nội bộ và có thể theo dõi trong trường hợp bị thất lạc. Amal Graafstra, Washington, một doanh nhân đã cấy ghép chip RFID vào cánh tay trái của mình vào đầu năm 2005. Kích cỡ của chip là 12mm chiều dài và 2 mm chiều rộng.

Lệ Hằng sưu tầm và biên dịch (1VS - www.1vs.vn)



Tin tức khác


Báo chí viết về 1VS
25/12/2015
Giải đáp vướng mắc trong lập Báo cáo tài chính năm 2015:

"Nội dung chính của sự kiện là tập trung hướng dẫn rà soát từng tài khoản trước khi lập báo cáo tài chính, chỉ ra những điểm cần lưu ý, hay sai sót, và những rủi ro về thuế khi lập báo cáo tài chính năm 2015. Trong đó, có nêu rõ những khác biệt giữa các đơn vị thực hiện theo quyết định 48 và thông tư 200".

10/08/2015
Ứng dụng dịch vụ đám mây cho các giải pháp kế toán và quản lý 1C - Đài Truyền hình Kỹ thuật số VTC (VTC1):
Điện toán đám mây là xu thế tất yếu của nền công nghệ hiện đại. Với việc đưa lên mây nhiều giải pháp như kế toán, bán hàng, quản lý tổng thể doanh nghiệp... dịch vụ đám mây của 1C được nhiều doanh nghiệp ứng dụng để tự động hóa công tác quản lý trong nhiều lĩnh vực. 
01/06/2015
Phần mềm kế toán 1C: Một dữ liệu cho hàng trăm khách hàng - Báo Tài chính điện tử:
"... Thứ nhất, đám mây 1C của chúng tôi sử dụng cơ chế chia tách dữ liệu Multitenancy. Với cơ chế này, 1VS chỉ cần quản lý 1 dữ liệu phần mềm duy nhất dùng chung cho hàng trăm, hàng nghìn khách hàng của mình. Trong đó, có chia tách thành các vùng dữ liệu riêng của mỗi khách hàng, đảm bảo tính riêng tư của từng vùng dữ liệu. Nhờ công nghệ này, chúng tôi giảm được tới mức tối thiểu về thời gian, công sức và chi phí cho việc bảo trì sản phẩm trong đám mây.".